Phó Giáo sư - Tiến sĩ Trần Đình Ngạn Nội khoa - Nội tổng quát Bệnh viện Quân y 103 Hồ sơ chuyên gia ♦ Chuyên khoa: Khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa Nội. - Tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội chuyên ngành Đa khoa, tốt nghiệp chuyện khoa II Nội khoa. - Chủ nhiệm khoa Tim - Thận - Khớp Bệnh viện 103 - Nguyên phó Giám đốc Bệnh viện Quân y 103
"Đây là kỹ xảo đấu tranh trong đại gia đình, muội và mẫu thân muội quá non rồi, cho nên mới thất bại." "Thất bại đó là chúng ta không tranh giành với các nàng." Diệp Tố Huân vểnh môi, bất mãn lầm bầm. "Muội không tranh, không có nghĩa mẫu thân muội cũng thế."
Năm 2003, BBC News Tiếng Việt đã có buổi phỏng vấn với giáo sư Trần Quốc Vượng (1934-2005), ông nói việc nhìn nhận lại các nhận vật, sự
Liên quan đến vấn đề này, mới đây trên trang cá nhân của mình, GS-TS Nhà giáo Nhân Dân Trần Đình Sử đã có những dòng chia sẻ về đề xuất mới. Theo đó, ông Trần Đình Sử cho rằng đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền mang tính hủy hoại văn hóa. Giáo sư-tiến sĩ Trần Đình Sử cho rằng đề xuất cải tiến Tiếng Việt mang tính hủy hoại văn hóa.
Trần Đình Sử xứng đáng được gọi là nhà thi pháp học Việt Nam. Giáo trình thi pháp học, Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, 1993; Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, 1999). 6 Trần Đình Sử - Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại. Nxb Giáo dục, 1999. 7 Trần Đình Sử
Trần Đình Sử đã góp phần đào tạo đội ngũ, nâng cấp mặt bằng nghiên cứu nói chung cũng như tạo lập điểm tựa, định hướng và gợi mở cho nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu thi pháp văn học Việt Nam và văn học thế giới những năm tiếp theo. Hà Nội, 2000- tháng 3/2013 Nguyễn Hữu Sơn Chia sẻ
Mách mẹ nơi mua sữa non Onefa Mama giá tốt nhất hôm nay: Mama được nhiều mẹ sửa khuyên nhau mua trong thời gian
Giáo Trình Lí Luận Văn Học-Tác Phẩm Và Thể Loại Văn Học (NXB Đại Học Sư Phạm 2015) - Trần Đình Sử. Discussion in 'Đại Học Sư Phạm (Toàn Quốc)' started by lanphuong, Sep 14, 2021.
App Vay Tiền Nhanh. Trần Đình Sử sinh ngày 10 tháng 8 năm 1940 là một giáo sư, tiến sĩ lý luận văn học, Nhà giáo Nhân dân, giảng viên Đại học Sư phạm Vinh, Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trường đại học khác ở Việt Nam. Ông là một trong những nhà lí luận văn học hàng đầu của Việt Nam và có nhiều đóng góp trong việc làm thay đổi diện mạo nền lí luận, phê bình văn học của Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI[1].Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo nhân dânTrần Đình SửGiáo sư Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Trần Đình SửSinhTrần Đình SửHuếQuốc tịch Việt NamDân tộcKinhTrường lớpGiáo sư Tiến sĩNghề nghiệpNhà Sư phạm, Nhà nghiên cứuGiáo sư Trần Đình Sử được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 2002, Nhà giáo Nhân dân năm 2010[2], được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Huy chương Vì sự nghiệp giáo Đình Sử là người có vốn kiến văn rộng, bao quát một khối lượng tri thức thuộc nhiều lĩnh vực, am hiểu văn học, văn hóa Việt Nam. Đóng góp lớn nhất trong sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của ông tập trung vào hai lĩnh vực chính là lí thuyết và nghiên cứu văn học Việt Nam. Trong đó ở mảng lí thuyết, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực thi pháp học[3] và tự sự học[4].Tiểu sửTrần Đình Sử sinh ngày 10 tháng 8 năm 1940 tại Huế. Quê gốc tại làng Phú Lễ, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, sau này là Thừa Thiên - năm 1945, Pháp tái chiếm Huế, mặt trận Huế vỡ, gia đình Trần Đình Sử chuyển ra Quảng Trị, chuyển lên sống tại thôn Lương Hạ, xã Triệu Nguyên, Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, thuộc Chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị. Trần Đình Sử học tiểu học ở đó. Năm 1952 ra Đức Thọ Hà Tĩnh, ở Trại Thiếu sinh Quảng Trị, Học lớp 5 và 6 tại Hà 1954, hoà bình lập lại, Trại thiếu sinh Quảng Trị giải tán Trần Đình Sử chuyển sang trường học sinh miền Nam mới thành lập. Lúc đầu ở trường Học sinh Miền Nam số 8, đóng tại Dương Liễu, Hoài Đức, sau chuyển sang trường Học sinh Miền Nam số 24 đóng tại thôn Thượng Cát, Từ Liêm, Hà Đông. Tại đây học xong lớp 7. Năm 1956, khi lên cấp 3, ông chuyển sang Phân hiệu Học sinh Miền Nam đóng tại trường Phổ thông cấp 3 Hà Nội, tại Lý Thường Kiệt, sau chuyển sang trường Nguyễn Trãi 3 tại 30 Phan Đình Phùng Hà Nội và tốt nghiệp phổ thông ở khoảng thời gian từ năm 1959 tới năm 1961 ông học tại Phân khoa Trung văn, Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đỗ thủ khoa, được giữ lại làm cán bộ giảng dạy từ tháng 10 năm năm 1962 đến 1966 ông được cử đi tu nghiệp văn học tại Đại học Tổng hợp Nam Khai, Khoa Văn học theo chế độ tiến tu thực tế học theo năm thứ ba và thứ tư. Năm 1966 về nước và được cử vào giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Vinh, Bộ môn Lí luận văn học, khoa năm 1968 đến 1969, ông học chuyên tu Nga văn một năm. Năm 1974, tiếp tục học chuyên tu Nga văn 1 năm nữa. Năm 1976 đến năm 1980 làm nghiên cứu sinh tại Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Kiev, Liên Xô, bảo vệ luận án ngày 20 tháng 10 năm 1980. Giáo viên hướng dẫn là GS. TS. Lidia Pavlovna Alexandrova, chuyên gia về tiểu thuyết lịch sử. Tên đề tài Thời gian nghệ thuật - yếu tố chỉnh thể của hình tượng nghệ thuật qua tiểu thuyết lịch sử viết về Lênin.Năm 1981, Trần Đình Sử về nước và làm việc tại Khoa Ngữ Văn, giảng dạy Bộ môn Lí luận văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông làm việc ở đó cho đến khi về hưu năm 2008. Tuy về hưu, nhưng ông vẫn tham gia đào tạo bậc thạc sĩ và tiến sĩ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội và nhiều cơ sở đào tạo khác thuộc các trường đại học và học viện ở Việt Nam cho đến nghiệpTrần Đình Sử bắt đầu nghiên cứu khoa học từ năm 1969, ông công bố Báo cáo khoa học nhan đề “Phong cách cơ bản của thơ Tố Hữu”, sau được trong in Kỉ yếu khoa học Khoa văn Đại học Sư phạm Vinh 1974. Trong bài này ông đã vận dụng khái niệm thế giới nghệ thuật, không gian, thời gian nghệ thuật. Năm 1972, ông viết tiểu luận Đặc trưng văn học trong tính chỉnh thể 100 trang. Cũng trong thời gian này, ông đã dịch cuốn Giáo trình Dẫn luận Lí luận văn học của L. V. Sêpilova M., 1956 sang tiếng Việt, in roneo để làm tài liệu tham khảo cho sinh viên. Cũng vào năm 1974, Trần Đình Sử tham gia biên soạn cuốn Thuật ngữ nghiên cứu văn học, do Đại học Sư phạm Vinh xuất hướng nghiên cứu khoa học chính của Trần Đình Sử bao gồm nghiên cứu lí thuyết văn học và văn học Việt Nam. Trong đó, về lí thuyết, ông tập trung vào đặc trưng văn học. Trần Đình Sử đi sâu khám phá các giá trị nghệ thuật của văn học, theo thuật ngữ chung của giới học thuật Nga gọi là thi pháp học. Sau khi ở Nga về, Trần Đình Sử chủ yếu nghiên cứu thi pháp học về lí thuyết và thực hành. Và để giảng dạy về thi pháp học ông đã tổng hợp các nghiên cứu của học giả Nga để viết thành giáo trình thi pháp học ở Việt Nam. Sau này, khi Liên Xô sụp đổ, các giáo trình của N. Tamarchenco và V. Tiupa, Broitman mới được xuất bản. Trong giáo trình của Trần Đình Sử, ông đã sử dụng các phạm trù của các nhà thi pháp học Nga như Quan niệm con người, không gian, thời gian nghệ thuật, hình tượng tác giả, thể loại, trần thuật, ngôn ngữ. Việc trình bày các trường phái thi pháp học phương Tây cũng gặp nhiều khó khăn vì ở Nga vào thời điểm những năm 80, không có công trình nào miêu tả các trường phái nghiên cứu phương Tây một cách chính diện, họ chỉ coi đó là các học thuyết tư sản và tiến hành phê phán. Trần Đình Sử phải qua các tài liệu phê phán đó để lọc lấy những tư tưởng mà ông cho là mới mẻ để đưa vào giáo trình của tư tưởng của Trần Đình Sử về mặt lí thuyết được thể hiện rõ ràng trong các chuyên luận và các giáo trình. Cụ thể, gồm các chuyên đề cao học Đặc trưng của văn học. Thi pháp học, Tự sự học. Ông có tham vọng nghiên cứu thi pháp các hiện tượng văn học tiêu biểu của Việt Nam và đã xuất bản nhiều chuyên luận chuyên sâu, trong đó tiêu biểu là các công trình nghiên cứu về Tố Hữu, Nguyễn Du, và Văn học Trung đại Việt Nam[5].Một khuynh hướng nữa trong các công trình của Trần Đình Sử là nghiên cứu văn học so sánh. Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu đăng báo, in sách, giảng chuyên đề cao học. Ông dự kiến sẽ xuất bản Giáo trình Văn học so sánh vào năm mảng nghiên cứu lí thuyết văn học Nga thế kỉ XX, Trần Đình Sử đã nghiên cứu, phiên dịch M. Bakhtin, IU. Lotman, D. Likhachev, V. Girmunski và nhiều người khác. Ông cũng nghiên cứu lí thuyết văn học Trung Quốc hiện đại và đã có sách xuất bản về mảng đề tài này. Ông cũng tập trung vào hướng nghiên cứu di sản lí thuyết văn học trung đại Việt Nam, thể hiện qua các bài báo lẻ và sách dịch của Lixêvich… Đề tài yêu thích của ông là nghiên cứu quan niệm về con người trong văn học. Ông đã xuất bản công trình Con người trong văn học trung đại Việt Nam. Ông cũng quan tâm đến kí hiệu học và đã có các bài dịch thuật và một số bài nghiên cứu về vấn đề tham gia đào tạo tiến sĩ từ những năm 80, hướng dẫn tiến sĩ từ năm 1990 và đã hướng dẫn hơn 30 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến vị công tácTrong thời gian công tác ở Đại học Sư phạm Hà Nội ông đã từng giữ những cương vị sauTrưởng Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1990 - Bộ môn Lí luận văn học và Chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1997 – viên Hội Nhà văn Việt Nam, viên Hội đồng lí luận phê bình Hội Nhà văn Việt Nam từ 1995 đến viên Hội đồng lí luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương từ 2003 đến viên Hội đồng Chức danh nhà nước ngành Văn học từ năm 1990 đến phẩmCác công trình nghiên cứu, dịch thuật xếp theo thời gianDẫn luận nghiên cứu văn học do G. N. Pospelov chủ biên dịch chung với Lại nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Nghĩa Trọng, Nhà xuất bản GD, 1985, 2 tập. Năm 1998 tái bản bỏ bớt một số chương, chỉ còn 1 trình Lí luận văn học, tập 1 và 2, viết chung 1986 và 1987. Ông viết 11 chương trên 30 chương của bộ pháp thơ Tố Hữu, Nhà xuất bản. Tác phẩm mới, 1987. Tái bản 5 tưởng văn học Trung Quốc của I. S. Lisevich, Nhà xuất bản. ĐHSP. Hồ Chí Minh, 1990. In lại nhiều lần tại Nhà xuất bản. Giáo số vấn đề thi pháp học hiện đại trong chương trình văn học phổ thông, Vụ giáo viên xuất bản, 1993. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên. Do Vụ Giáo viên, Bộ GD và ĐT đặt hàng nhằm nâng cao trình độ giáo vấn đề thi pháp Dostoievski, dịch chung với Lại Nguyên Ân và Vương Trí Nhàn, Nhà xuất bản. Giáo dục, 1993. Tái bản năm thế giới nghệ thuật thơ, Nhà xuất bản. Giáo dục, 1995. Nối bản in lại nhiều luận và phê bình văn học, Nhà xuất bản. Hội nhà văn, 1996. Giải thưởng Hội nhà văn năm 1997, tái bản 6 lần tại Nhà xuất bản. Giáo pháp thơ Đường, viết và dịch chung với Nguyễn Khắc Phi, Nhà xuất bản. Giáo dục, Đà Nẵng, số vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản. Giáo dục, 1998. Tái bản 2 luận thi pháp học, Nhà xuất bản. Giáo dục, văn học văn, tập hợp những bài phân tích bình luận văn học trong nhà trường in trên báo và các sách, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội, ngữ nghệ thuật thơ Đường của hai tác giả Mĩ gốc Hoa Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân, dịch chung với Lê Tẩm, NXb Văn học, Hà Nội, học và thời gian, Nhà xuất bản. Văn học, 2002, tái bản năm sau, 2003. Tập hợp những bài viết về văn học và văn pháp Truyện Kiều, Nhà xuất bản. Giáo dục, 2002. Tái bản 8 lần, bổ sung xuất bản tại Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, bài giảng mĩ học. Sách dịch của Lý Trạch Hậu, dịch chung, Nhà xuất bản. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2004. Tái bản luận thi pháp học phiên bản thứ ba, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội, 2004. Tái bản điển thuật ngữ văn học, đồng chủ biên. Về sau, Trần Đình Sử đã chỉnh lí toàn bộ, bổ sung, Nhà xuất bản. Giáo dục, 2004, tái bản nhiều trình Lí luận văn học, Tập 1 và tập 2, viết mới, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003 và 2004, tái bản nhiều sự học Một số vấn đề lịch sử và lí luận, Chủ biên, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2003, tái bản 2007 và học so sánh, lịch sử và triển vọng, Chủ biên, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm Hà Nội, Đình Sử tuyển tập, hai tập, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội, 2004, giáo khoa Trung học cơ sở, chủ biên phần làm văn 2003 đến naySách giáo Khoa Ngữ Văn, Trưởng nhóm soạn thảo chương trình, Tổng chủ biên bộ nâng cao 2003 -2006, sử dụng cho đến sự học, những vấn đề lịch sử và lí thuyết, tập 2, chủ biên, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, luận văn học, tập 2, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, 2008. Tái bản nhiều tập nghiên cứu văn học, Nhà xuất bản. Hội nhà văn, nền Lí luận văn học hiện đại, nhìn qua thực tiễn Trung Quốc. Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, đường biên của Lí luận văn học, Nhà xuất bản. Văn học, 2014. Tái bản 2015, Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội, hiệu học văn hoá, dịch chung với Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Nhà xuất bản ĐHQG, sự học, lí huyết và ứng dụng, chủ biên, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội, luận thi pháp học văn học phiên bản mới, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, ngữ văn và dạy học ngữ văn trong nhà trường phổ thông, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, văn học văn, bổ sung, Nhà xuất bản. Tri thức, luận và thi pháp văn học, Nhà xuất bản ĐHSP, Hà Nội, 2020. 652 trangCơ sở văn học so sánh, Giáo trình đại học, Nhà xuất bản ĐHSP, Hà Nội, 2020. 236 sử văn học Việt Nam chủ biên, Nhà xuất bản ĐHSP, 2021, 339 sự học- từ kinh điển đến hậu kinh điển sách tái bản chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2022,528 các tập sách trên Trần Đình Sử còn viết, chủ biên trên 100 cuốn gồm sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách bài tập, sách hướng dẫn làm văn cho học sinh các lớp từ lớp 6 đến lớp 12, góp một phần đổi mới dạy học văn học, ngữ văn trong trường phổ cách, hướng nghiên cứuĐưa thi pháp học vào Việt Nam những năm 80, Trần Đình Sử đã đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp tiếp cận văn học sau một thời gian dài đóng khung trong phương pháp xã hội học, thậm chí là dung tục, hướng mối quan tâm vào nghệ thuật. Thi pháp học của ông đã cung cấp một loạt khái niệm mới, thuật ngữ mới, đem đến những khả năng mới trong việc cảm thụ văn học, kích thích nhiều thế hệ người học, giúp họ tìm tòi, khám phá về văn học.[6]. Thực tế đã cho thấy, về sau, ở Việt Nam cũng đã bắt đầu xuất hiện nhiều khuynh hướng phê bình khác nhau song phê bình thi pháp vẫn chiếm một vị trí quan trọng bởi nó gắn với bản chất nghệ thuật của văn thuyết thi pháp học Trần Đình Sử là một phiên bản Việt Nam. Nó không sao chép một lí thuyết nào mà là một sự tổng hợp, hệ thống hoá của tác giả qua nhiều thời gian nghiên cứu, thể nghiệm[7].Với những nghiên cứu của Trần Đình Sử, ông đã chấm dứt sự phân lập nội dung và hình thức trong nghiên cứu văn học. Ở đây, hình thức mang quan niệm và qua hình thức để khám phá nội dung, không có chuyện phát hiện nội dung rồi mới đi tìm hình việc phiên dịch, giới thiệu, vận dụng lí thuyết văn học nước ngoài Nga, Trần Đình Sử đã góp phần đưa vào đời sống phê bình, lí luận những khái niệm mới hoặc với nội hàm mới như thi pháp, thế giới nghệ thuật, không gian, thời gian nghệ thuật, các loại hình nội dung thể loại sử thi, thế sự, đời tư, thơ điệu nói… Ông đã đem vào nghiên cứu một lối viết khác hẳn lối phê bình thơ mà Hoài Thanh đề xướng. Đó là việc đi tìm những dẫn chứng, lập luận thể hiện sự lặp lại trong tư duy nghệ thuật của nhà văn,từ đó chỉ ra đặc trưng nghệ thuật, phong cách. Lối phân tích phẩm bình thơ văn của Trần Đình Sử cũng có nét riêng không lẫn với cách làm của các tác giả khác. Nó hoàn toàn thoát khỏi lối trích dẫn những câu hay để bình, tán trong nghiên cứu văn thưởngGiải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1997 cho cuốn sách Lí luận và phê bình văn học. Nhà xuất bản. Hội nhà văn, 1996.Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000 cho cụm công trình Thi pháp học, gồm các công trình Thi pháp thơ Tố Hữu Nhà xuất bản. Tác phẩm mới, H., 1987, '’Lí luận và phê bình văn học Nhà xuất bản. Hội nhà văn H., 1996, Những thế giới nghệ thuật thơ Nhà xuất bản. Giáo dục, H., 1995, Dẫn luận thi pháp học Nhà xuất bản. Giáo dục, H., 1998.Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội năm 2015 cho cuốn sách Trên đường biên của Lí luận văn học, Nhà xuất bản. Văn học, 2014.Ông nhận Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ X, năm 2017, vì những đóng góp to lớn và lâu dài trong lĩnh vực nghiên cứu văn thích^ Nguyễn Đăng Điệp. “Con đường khoa học của Trần Đình Sử”, in trong Trần Đình Sử tuyển tập, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, 2004^ 1194 nhà giáo được phong tặng danh hiệu NGND, NGƯT năm 2010^ Lã Nguyên, “Trần Đình Sử và hướng nghiên cứu Thi pháp học.^ Cao Kim Lan. “Tự sự học và thực tiễn tiếp nhận ở Việt Nam, Tạp chí Lí luận Văn học Nghệ thuật Trung ương, số 9/2018.^ Trần Đình Sử tuyển tập, tập 1&2, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội 2004, 2005^ [Trần Đình Sử. Dẫn luận Thi pháp văn học. Nhà Xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, tái bản 2017.]^ Lã Nguyên, “Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử và giới hạn của những cách đọc”Liên kết ngoàiTrần Đình SửTrần Đình SửThi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử và giới hạn của những cách đọcTrên đường biên của lý luận văn học Lưu trữ 2019-02-14 tại Wayback MachineTrần Đình Sử, tại sao?Trần Đình Sử và hướng nghiên cứu thi pháp học
Toquoc- Trong vài ba chục năm gần đây việc phiên dịch, giới thiệu và vận dụng thi pháp học vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam ngày càng được quan tâm và triển khai một cách sâu rộng. Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và luận văn từ bậc đại học tới sau đại học đã thấy xuất hiện thuật ngữ thi pháp cũng như việc vận dụng thao tác thi pháp học vào tìm hiểu các thể loại, trào lưu, tác gia, tác phẩm văn học tiêu biểu, rõ nhất với văn học trung đại và giai đoạn 1932-1945. Thực tế cho thấy, xét trong mặt bằng tư duy lí luận, khi mà các phương pháp nghiên cứu dừng lại khá lâu ở các bình diện “nhà văn và tác phẩm”, “gương mặt nhà văn”, “đời và thơ”, “văn học và hiện thực”… thì làn sóng nghiên cứu thi pháp quả đã góp phần tiếp thêm sinh khí cho đời sống học thuật. Cho đến nay, thông qua các công trình dịch thuật và từ điển văn học, có thể nói giới nghiên cứu và bạn đọc rộng rãi đã nắm bắt được những vấn đề cơ bản nhất của thi pháp và thi pháp học. Theo quan sát của chúng tôi, một trong những người đi tiên phong trong lĩnh vực này là nhà nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học, - GS. TS. Trần Đình Sử. Ghi nhận những đóng góp của ông, nhiều đồng nghiệp và học trò thuộc nhiều thế hệ đã thực hiện công trình tập hợp Thi pháp học ở Việt Nam Nhân 70 năm sinh GS. TS. Trần Đình Sử NXB Giáo dục Việt Nam, H., 2010, 638 trang. Ngoài phần một Toàn cảnh thi pháp học có ý nghĩa khái quát của GS. Trần Đình Sử sách còn có hai phần Tuyển chọn những công trình tiêu biểu gồm 41 mục tiểu luận nghiên cứu tiêu biểu chuyên về thi pháp và những vấn đề liên quan của nhiều tác giả; Ấn tượng Trần Đình Sử tập hợp 23 mục bài hồi ức, kỷ niệm, suy tư của nhiều thế hệ nhà nghiên cứu, đồng nghiệp và học trò về GS. Trần Đình Sử. Nhìn rộng ra, đây chính là sự tri ân của học giới đối với nhà giáo, nhà lý luận, chuyên gia thi pháp Trần Đình Sử, đồng thời cũng là sự bác bỏ đích đáng tiếng nói lạc lõng, báo động giả về cái gọi là “loạn thi pháp”… Không chỉ là người tham bác, góp phần giới thiệu lý luận thi pháp qua các nguồn tài liệu kinh điển của Nga, Trung Quốc, GS. Trần Đình Sử còn bỏ nhiều công sức cho việc áp dụng thi pháp học vào nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam. Khởi đầu từ tiểu luận Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du Tạp chí Văn học, số 5-1981, Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Tạp chí Văn học, số 6-1983; cùng nhiều công trình nghiên cứu khác, ông góp phần tạo dựng và phát triển chuyên ngành thi pháp văn học Việt Nam trong suốt hơn ba thập kỉ vừa qua. Trong vai trò người mở đường, ông đã dẫn giải và giúp học giới làm quen với hệ thống khái niệm, thuật ngữ thi học như thi pháp học cổ điển, thi pháp học hiện đại, cái nhìn nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật, thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, tư duy nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật, quan niệm về con người, giọng điệu, hình thức mang tính quan niệm, hình tượng tác giả Đi qua cả một chặng đường dài, GS. Trần Đình Sử đã có nhiều công trình dịch thuật, giới thiệu ở tầm mức khái quát cũng như đi sâu tìm hiểu từng phương diện thi pháp học với nhiều qui mô khác nhau như Thi pháp Đốtxtôiépxki 1985, Mấy vấn đề lý luận thi pháp tác giả của M. Bakhtin 1992, Giáo trình thi pháp học 1993, Những thế giới nghệ thuật thơ và Thi pháp thơ Tố Hữu 1995, Về thi pháp thơ Đường biên soạn và dịch thuật, 1997, Dẫn luận thi pháp học 1998… Xét về cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu có thể thấy rằng do bản thân đặc điểm nội dung đối tượng quy định nên tác giả thường dựa trên cơ sở nắm vững các thủ pháp, thao tác của thi pháp học đại cương mà tập trung khảo sát thi pháp học chuyên biệt tức là thực hiện việc miêu tả tác phẩm văn học chủ yếu ở các phương diện ngữ âm, từ vựng và hình tượng nhằm xây dựng “mô hình” một hệ thống những thuộc tính có tác động thẩm mĩ của tác phẩm. Định hướng này thế hiện rõ khi tác gia nghiên cứu một số vấn đề thi pháp Truyện Kiều, một số phương diện thế giới nghệ thuật của nhà thơ và tác phẩm thơ, đặc điểm thi pháp thơ Mới và thơ Tố Hữu… Đây cũng chính là những công trình nghiên cứu cơ sở, những bước chuẩn bị công phu và chắc chắn để tiến tới bước tổng kết học thuật chuyên sâu trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam 1999 và tâm điểm là Thi pháp Truyện Kiều 2001. Đến nay, cả hai công trình tiêu biểu này đều đã được tập hợp trong bộ sách Trần Đình Sử - Tuyển tập, hai tập Nguyễn Đăng Điệp tuyển chọn. NXB Giáo dục, H., 2005 Tập I 888 trang; Tập II 932 trang… Trở lại công trình Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam NXB Giáo dục, H., 1999, 444 trang, GS. Trần Đình Sử trong Phần thứ nhất - Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại đã nhấn mạnh lịch sử vấn đề, giới thiệu phạm vi cũng như các khía cạnh lý luận giao thoa với đề tài. Trên cơ sở nắm vững lý luận thi pháp và tìm hiểu kỹ các công trình nghiên cứu mẫu mực, kinh điển của nước ngoài cũng như thực tế lịch sử văn học dân tộc, ông xác định rõ “Công trình này sở dĩ được gọi là Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam là bởi vì nó được gợi ý từ nhiều công trình nghiên cứu thi pháp văn học trung đại của các tác giả hiện đại nước ngoài, trước hết là các tác giả Nga” đồng thời nhấn mạnh các khía cạnh, mối quan hệ và quá trình phát triển “thi pháp học từ truyền thống tới hiện đại”, “thi pháp văn học trung đại trong thi pháp học hiện đại”, “vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam” và chỉ ra sự tương hợp của việc đặt các tác phẩm trung đại “trên các mẫu số chung để nhận ra cái khác biệt và cái độc đáo” tức là đặt trong tầm quan sát “thời gian lớn” của lịch sử văn học. Đồng thời với việc giới thuyết “xét riêng về hệ thống văn học thì có thể xem văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX thuộc phạm trù trung đại”, tác giả cũng rất chú ý đến bình diện lịch sử và mối quan hệ biện chứng khi đặt văn học dân tộc trong quá trình phát triển chung “Xây dựng mô hình chung có tính nhân loại, tính đến đặc thù khu vực và dân tộc có thể cho phép nhìn nhận văn học dân tộc trong bối cảnh chung của nhân loại” Đây cũng là sự thận trọng cần thiết để tránh xu hướng hiện đại hóa văn học quá khứ hoặc rập khuôn máy móc mô hình lý luận văn học nước ngoài vào Việt Nam. Từ việc giới thiệu kết quả nghiên cứu thi pháp văn học trung đại qua một số công trình tiêu biểu, GS. Trần Đình Sử cho thấy vấn đề thi pháp văn học trung đại đã được đặt ra chủ yếu trên bốn phương diện a Quan niệm văn hóa thẩm mĩ, bao gồm quan niệm tổng quát về văn học, về tác giả, về thể loại, về ngôn ngữ nói chung. b Thể loại văn học với hệ thống đặc trưng trong loại hình của nó. c Hệ thống các thủ pháp, các phương pháp nghệ thuật thể hiện cho cách chiếm lĩnh, cảm nhận đời sống của con người trung đại. d Hệ thống từ chương học với các nguyên tắc sử dụng ngôn từ trên các cấp độ. Đó cũng chính là những phương diện chủ yếu được tác giả coi là “sườn khái quát” để triển khai cụ thể ở Phần thứ hai - Một số vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, phần trọng tâm của tập sách gồm 5 chương. Đúng như nhan đề sách “Mấy vấn đề…” có ý nghĩa khơi dẫn, khởi thảo cũng như cảm nhận chuẩn mực của tác giả rằng việc nghiên cứu thi pháp văn học trung đại “là một lĩnh vực hết sức khó khăn”, đòi hỏi phải có cách thức giải quyết hợp lí. Những khó khăn đặt ra không phải chỉ về lí thuyết, về tư liệu, về sự thâm nhập và khả năng phân tích tác phẩm mà còn bởi thách thức của bản thân các giai đoạn, các thể loại vừa không thuần nhất lại phát triển không đồng đều, không theo một quá trình liên tục. Trong khi đó yêu cầu khoa học đặt ra cho công trình là phải miêu tả tác phẩm văn học cá biệt cũng như cụm tác phẩm trong sáng tác của một nhà văn, một thể loại, một trào lưu, một giai đoạn và tiến tới bao quát, khái quát những đặc điểm thi pháp văn học của cả thời trung đại kéo dài tới suốt cả một thể kỷ. Đứng trước thực tế ấy, tác giả đã tập trung xem xét văn học trung đại Việt Nam như một hệ thống đặc thù của khái niệm văn học văn, văn chương, văn nghệ và nghệ thuật ngôn từ…, hệ thống thể loại theo kiểu văn tự Hán và Nôm, việc tiếp thu toàn diện hệ thống thể loại văn học chữ Hán của Trung Quốc và khả năng biến đổi - sáng tạo, chức năng thuần túy văn học và chức năng ngoài văn học…, điều đáng chú ý là ở phần viết này tác giả thường đặt đối tượng trong sự đối sánh, so sánh với văn học hiện đại và tương quan giao tiếp với văn học trung đại Trung Quốc để làm nổi bật các sắc thái văn học trung đại Việt Nam. Với công trình Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, do nhiệm vụ cần hướng tới khái quát, tổng kết đặc điểm thi pháp văn học của cả một thời đại mà bên cạnh trọng tâm thi pháp học chuyên biệt, người viết gia tăng áp dụng thi pháp học lịch sử, chú trọng khảo sát sự phát sinh phát triển của các thể loại cũng như đi sâu tìm hiểu ranh giới phân chia phạm vi văn học và ngoài văn học với tất cả sự vận động và đổi thay của chúng. Tùy theo phạm vi và đặc điểm thể loại khác nhau mà tác giả triển khai áp dụng thi pháp học chuyên biệt để xác định kết cấu, tức là các tương quan của tất cả các yếu tố trong chỉnh thể nghệ thuật. Tinh thần chủ đạo của việc phân tích các phương tiện nghệ thuật nhằm xây dựng điểm nhìn nghệ thuật cách hình dung về thế giới có tác dụng quy định tất cả mọi điều cơ bản của cấu trúc tác phẩm. Quá trình phân tích này thường căn cứ trên ba phương diện chủ yếu là không gian nghệ thuật điểm nhìn và trường nhìn, không gian ám ảnh, không gian ám ảnh, không gian có giới hạn hay đóng và mở…; thời gian nghệ thuật tính tuần tự của văn bản, thời gian tâm lí và các biến thể nhịp điệu thời gian…; và cuối cùng là hình tượng tác giả vai trò cá nhân sáng tạo của cái “tôi”, giọng điệu người trần thuật, người kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình…. Có thể nói các phương diện trên đã được triển khai sâu sắc và cũng đạt kết quả học thuật rõ nét nhất qua ba chương; Các thể thơ trữ tình, Thể loại truyện chữ Hán, Diễn ca lịch sử và truyện thơ Nôm Chương II, IV và V… Đi sâu xem xét các chương mục chủ đạo trong Phần thứ hai - Một số vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam sẽ thấy tác giả vận dụng khá linh hoạt lí thuyết thi pháp vào từng thực thể, từng đối tượng văn học. Có hai “điểm nhìn” thi pháp học được triển khai nương theo mức độ tính chất điển hình của tác phẩm văn học. Thứ nhất là “cái nhìn thể loại” nhằm khám phá những đặc điểm thi pháp của nhiều thể loại như ngâm khúc “Ngâm khúc đã phát triển đến tột độ quan niệm tự tình của thơ trữ tình trung đại. Chính việc kể lể tình cảm mới tạo khả năng sáng tác được khúc ngâm dài mà không cần đến cốt truyện” hát nói “Nếu như ngâm khúc thể hiện một con người cô đơn đau xót đi tìm những giá trị của mình đã bị mất mát thì thể thơ hát nói, một thể thông dụng trong ca trù, lại thể hiện một con người tài tử thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, danh lợi, nắm lấy phút giây hiện tại… Nhưng cái chính thơ hát nói là thể thơ điệu nói […], đánh dấu xu hướng mở rộng lĩnh vực của thơ sang địa hạt giọng điệu nói” tiểu thuyết chương hồi chữ Hán “là thể loại văn học gắn liền với lịch sử, trực tiếp lấy lịch sử làm đề tài. Nó thể hiện nổi bật nhất tính chất văn sử bất phân đồng thời cũng thể hiện rõ chất văn học do chú trọng vào tính cách, chi tiết biểu hiện và hình thức tổ chức tác phẩm. Mặt khác, do gắn với lịch sử, số phận nhân vật ít khi có hậu, mà thường là bi kịch. Đây là đặc điểm quan trọng làm cho các tác phẩm văn học viết khác hẳn văn học truyền miệng dân gian” truyện diễn ca lịch sử “Diễn ca lịch sử là một loại truyện vừa có tính chát sử vừa có tính chất văn học, được viết bằng văn vần […]. Thể thức này vừa giống với các tập sử ký, vừa giống với các tiểu thuyết diễn nghĩa, lại pha xen cả Hán lẫn Nôm, tác phẩm Nôm mà tên bằng chữ Hán, một bằng chứng của sáng tác song ngữ […]. Cái chính là nó kể lại lịch sử dân tộc bằng những hình tượng kì vĩ, bằng tưởng tượng táo bạo, bằng ngôn từ ngợi ca nhiệt tình, bằng lập trường dân tộc” Nói riêng ở truyện thơ Nôm, tác giả nêu rõ ý kiến phản biện với định hướng khái quát các đặc điểm thi pháp thể loại truyện Nôm theo quan điểm folklo học và đẩy mảng truyện Nôm sang địa hạt văn học dân gian, đồng thời biện luận cho một quan niệm có phần khác biệt - trong đó nhấn mạnh tư duy sáng tác làm truyện và phương thức lưu truyền bằng văn tự “Truyện Nôm là sản phẩm sáng tạo kết hợp các cốt truyện có sẵn với khả năng tự sự của lục bát. Nó sáng tác để kể, nhưng cũng để xem… Truyện Nôm được sáng tác với ý thức làm truyện rõ ràng đã chứng tỏ tác giả bình dân muốn làm văn học viết. Xem trong truyện Nôm ta có thể tìm thấy nhiều câu tuy đưa đẩy, nhưng đã thể hiện ý thức sáng tác bằng văn tự, cho nên không thể nói giản đơn là sáng tác cốt để kể… Nó không đơn giản là đem truyện cổ tích kể lại bằng thể lục bát, mà là sáng tác thành một dung lượng mới… Ở truyện Nôm tác giả phải sáng tạo lời kể cố định, lời thoại cho nhân vật, lời than, lời bình cho mình… Theo chúng tôi truyện Nôm có một phạm vi tự sự, một “mức độ” cụ thể trong miêu tả sự việc, con người. Đó là chú ý miêu tả lời nói, ý chí, tâm trạng nhân vật. Dù chất lượng nghệ thuật cao thấp khác nhau, nhưng các yếu tố này không bao giờ thiếu” Thứ hai là việc lựa chọn đối tượng phù hợp để phân tích các phương diện biểu hiện nghệ thuật như “quan niệm về con người trong thơ”, chủ yếu là “sự vận động và phát triển của con người trong thơ trữ tình với việc phân xuất đặc điểm theo các giai đoạn thể kỷ X - XIV, thế kỷ XV - hết thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX và con người trong truyện thơ Nôm qua ba “chặng” hình thành và phát triển con người trong truyện thơ Nôm kể bằng thất ngôn Đường luật, trong truyện thơ Nôm bình dân và trong truyện Nôm của văn nhân…; có khi phân tích bao quát “thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ” theo các phương diện cảm nhận nghệ thuật cụ thể gồm thời gian nghệ thuật trong thơ với việc xác định mô hình chung; xem xét các khía cạnh “thời gian vũ trụ bất biến” như vô thời gian trong thơ thiền, thời gian bất biến, tĩnh tại trong thơ nhà nho, thời gian lịch sử trong tương quan với thời gian vũ trụ và thời gian con người trong thơ ca… và không gian nghệ thuật trong thơ với việc khái quát những đặc điểm chung về cảm thụ không gian trong thơ trung đại, không gian nhàn tản thoát tục, không gian hoang dại tiêu điều biến dịch, không gian luân lạc trong thơ Nguyễn Du và các tác giả khác, không gian trần tục hóa trong thơ Hồ Xuân Hương và không gian thế tục hóa vào cuối thời trung đại…; hoặc có khi phân xuất chỉ tập trung khảo sát “thời gian trong truyện và tiểu thuyết” bao gồm thời gian trong truyện chữ Hán với tính lịch sử ước lệ, thần thoại vĩnh hằng và truyện khép kín qua các tác phẩm chủ yếu như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thiền uyển tập anh, Truyền kì mạn lục, Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút… và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết chương hồi Việt Nam với đặc điểm ưu tiên miêu tả sự kiện trong thời gian liên tục, sự hình thành công thức phục vụ cho phân tuyến trần thuật đứng từ một khoảng cách xa, đứng ngoài nhân vật điều khiển xâu chuỗi sự việc chứng tỏ một sự tiểu thuyết hóa lịch sử ở bình diện kết cấu sự kiện chứ chưa tiểu thuyết hóa ở khoảng cách trần thuật trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí; các sự kiện nhân quả lồng vào trong thứ tự thời gian, giữa các hồi có thời gian bỏ lửng hoặc thời gian xếp chồng nhưng về cơ bản không làm thay đổi hình thức liên tục, biên niên ở Nam triều công nghiệp diễn chí; có khi thời gian thứ tự truyền thuyết, thời gian trong truyện ghi theo sự kiện thuần túy, kể sự tích theo tuổi và theo năm, năm này kế tiếp theo sau năm khác như trong Tây Dương Gia Tô bí lục…. Như vậy, xuất phát từ bản chất đối tượng tác phẩm mà nhà nghiên cứu khai thác nhiều hơn ở khía cạnh đặc điểm thể loại và thể văn ngâm khúc, hát nói, diễn ca, lịch sử, phú và các thể văn Hán và Nôm trung đại hay các phương diện quan niệm con người - thời gian và không gian nghệ thuật ở các thể thơ trữ tình, thể loại truyện chữ Hán và truyện thơ Nôm. Điều này một mặt cho thấy sức mạnh của lý luận thi pháp tập trung chủ yếu ở việc áp dụng vào dòng văn học chủ lưu mà khó khai thác ở các thể loại và thể văn đường biên như chiếu, tấu, thư, văn tế, bi, tự…; mặt khác lại cho thấy tính chất phức tạp, khó đạt tới tính thống nhất trong quá trình tiếp cận, triển khai các vấn đề chẳng hạn, bạn đọc còn mong có lời giải quan niệm nghệ thuật về con người và không gian trong truyện và tiểu thuyết trung đại, quan niệm về con người - thời gian và không gian trong diễn ca lịch sử, quan niệm về thời gian - không gian nghệ thuật trong truyện thơ Nôm… Trong công trình Thi pháp Truyện Kiều 2001, in trong Trần Đình Sử - Tuyển tập, Tập I. Sđd, GS. Trần Đình Sử triển khai các vấn đề lý thuyết thi pháp vào nghiên cứu một tác phẩm cụ thể là kiệt tác Truyện Kiều. Qua chương một - Những chặng đường nghiên cứu thi pháp Truyện Kiều, tác giả lược dẫn những cách thức và kết quả nghiên cứu thi pháp Truyện Kiều trước đây thường dừng lại ở những yếu tố, những tìm tòi riêng biệt, lẻ tẻ, từ đó nhấn mạnh tính mục đích “nhằm khám phá cho được hệ thống hình thức mang tính quan niệm của tác phẩm”… Ở năm chương tiếp theo, tác giả đi sâu khai thác các đặc điểm về cơ sở căn rễ văn hóa, về thế giới nghệ thuật Truyện Kiều cách kể chuyện của Nguyễn Du, cái nhìn nghệ thuật về con người, hình tượng tác giả, không gian và thời gian nghệ thuật, về mô hình tự sự và ngôn ngữ nghệ thuật hình thức tự sự, mô hình cốt truyện và thể loại, giọng điệu nghệ thuật cảm thương… và chương cuối cùng là Sức sống Truyện Kiều nhằm nhấn mạnh giá trị tự thân của tác phẩm trong tương quan hệ thống thể loại truyện thơ Nôm, khả năng đúc kết các giá trị thẩm mỹ và mở ra những chân trời tiếp nhận Truyện Kiều khác nhau. Điều này thể hiện như một minh chứng rằng, với cùng một tác phẩm, khi nhà nghiên cứu thay đổi điểm nhìn gắn với những lý thuyết mới, phương pháp mới thì bản thân tác phẩm lại tiếp tục tỏa sáng, mở ra những chiều kích tư duy nghệ thuật mới mẻ. Bên cạnh các công trình nghiên cứu từ các phương pháp và điểm nhìn xã hội học, ngôn ngữ học, phong cách học, văn hóa học, so sánh, thể loại, loại hình, tiếp nhận, liên ngành…, phải ghi nhận và khẳng định việc GS. Trần Đình Sử vận dụng lý thuyết thi pháp vào nghiên cứu Truyện Kiều đã đưa đến những kết quả học thuật thực sự sáng rõ, trở thành bài tập mẫu cho nhiều công trình nghiên cứu văn học Việt Nam theo phương hướng thi pháp học. Đồng hành và tiếp nối với Trần Đình Sử, trong khoảng hai chục năm nay ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu, chuyên luận, chuyên khảo bàn về thể loại, thể tài, thể văn, tác giả, tác phẩm đặt rõ vấn đề áp dụng thi pháp hay có kèm thêm thuật ngữ “thi pháp” chẳng hạn Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao 1992; của Nguyễn Thị Bích Hải, Thi pháp thơ Đường 1995; Lê Trường Phát, Thi pháp văn học dân gian 2000; Tất Thắng, Về thi pháp kịch 2000; Trần Đình Sử - Nguyễn Thanh Tú, Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan 2001; Nguyễn Huy Hoàng, Tìm hiểu thi pháp truyện ngắn Gogon 2001; Phạm Mạnh Hùng, Thi pháp hoàn cảnh trong tác phẩm của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao 2001; Trần Khánh Thành, Thi pháp thơ Huy Cận 2002; Đào Ngọc Chương, Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của E. Hemingwey 2003; Phan Thu Hiền, Thi pháp học cổ điển Ấn Độ 2006..., hoặc có liên quan và giao thoa với một số phương diện căn cốt của thi pháp học chẳng hạn Phạm Thu Yến, Những thế giới nghệ thuật ca dao 1998; Vũ Văn Sĩ, Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945 - 1995 1999; Nguyễn Đăng Điệp, Giọng điệu trong thơ trữ tình 2002; Lê Quang Hưng, Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu 2002; Hồ Thế Hà, Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên 2004 Qua hơn bốn mươi năm gắn bó với công việc giới thiệu lý thuyết thi pháp, GS. Trần Đình Sử đã có những đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển lý luận và nghiên cứu khu vực văn học Việt Nam. Đây là những công trình khoa học thực sự chuyên sâu, không chỉ nhằm miêu tả, minh định các thực thể văn học khác nhau mà tập trung hướng tới giải quyết một vấn đề phức tạp rộng lớn hơn đưa ra cách hình dung “điểm nhìn” bao quát những vấn đề thi pháp chung nhất, liên quan đến tất cả các vấn đề về thời đại, loại hình văn học, thể loại và thể văn khác biệt nhau. Có thể khẳng định GS. Trần Đình Sử đã góp phần đào tạo đội ngũ, nâng cấp mặt bằng nghiên cứu nói chung cũng như tạo lập điểm tựa, định hướng và gợi mở cho nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu thi pháp văn học Việt Nam và văn học thế giới những năm tiếp theo. Hà Nội, 2000- tháng 3/2013 Nguyễn Hữu Sơn
Khi bộ sách giáo khoa lớp 1 trở thành chủ đề bàn tán nhiều ngày qua, dư luận chú ý tới Hội đồng thẩm định, trong đó Giáo sư Trần Đình Sử là Chủ tịch Hội đồng. Và thật bất ngờ khi vào tài khoản FB mang tên ông, mới ngã ngửa ra là ông Sử lại có nhiều vấn đề phức tạp về tư tưởng, thậm chí có thể xếp vào hàng “tự diễn biến, tự chuyển hóa”.Bạn đang xem Trần đình sửTài khoản FB mang tên Trần Đình Sử đăng tải nhiều nội dung công kích chế sư phản độngTại sao lại nói vậy? Lật lại lịch sử, Trần Đình Sử là một trong 72 kẻ nhân sĩ trí thức thoái hóa đòi sửa đổi Hiến pháp 1992, trong đó, đòi đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam CSVN, đòi đổi tên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, đòi phi chính trị hóa các lực lượng vũ trang Nhân dân. Trần Đình Sử từng mượn tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hạ bệ chế độ và nền tư pháp của ta ngày nay. Cách đây mấy tháng, Trần Đình Sử còn công khai ủng hộ các đối tượng trong “tổ Đồng Thuận” và các luật sư bào chữa cho các bị cáo tại phiên thực sự tài khoản FB nói trên là của Giáo sư Trần Đình Sử, thành viên Hội đồng thẩm định bộ sách Giáo khoa lớp 1 đang gây tranh cãi trong những ngày vừa qua thì thật sự đáng lo ngại. Một giáo sư đầu ngành về giáo dục, viết sách, thẩm định sách cho cả một thế hệ mà có suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực như vậy, thử hỏi, chất lượng các sản phẩm của ông ta đến đâu, liệu có xứng đáng với hai chữ GIÁO SƯ hay không? Ông ta mở miệng là chửi bới Đảng, Nhà nước, nhưng lại quên rằng, mình được ăn học tử tế, trưởng thành từ đâu, ngoài mái trường Xã hội chủ nghĩa. Ăn cơm dân, mặc áo Đảng, được trọng dụng, phong danh hiệu Giáo sư, đâu phải để ông ta quay đầu chửi bới, đả kích trên mạng được chứ. Nếu muốn chống phá, thì hãy từ bỏ học hàm Giáo sư, từ bỏ ngành giáo, rồi hãy làm những gì ông một mang bài đăng mang tính công kích của tài khoản FB Trần Đình thêm ViệT Nam Không BiếT Thông Tin Trung QuốC đặT Tên LửA Phòng Không GầN Biên GiớI? — TiếNg ViệTGiáo dục hay bất kỳ ngành nào cũng phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, có thế thì mới có được định hướng đúng, có thế thì mới không mơ hồ và bát nháo. Ông là Chủ tịch Hội đồng thẩm định sách Giáo khoa, hàm giáo sư mà tư duy, nhận thức ấu trĩ như thế, thảo nào mà sách Giáo khoa hiện nay chẳng khác nào mớ rau tập tàng, lẩu thập năm gần đây, chúng ta thấy xuất hiện nhiều Phó Giáo sư, Tiến sỹ có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thường xuyên viết các bài viết có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước như trường hợp PGS Đỗ Ngọc Thống Vụ Giáo dục Trung học, PGS Nguyễn Hoàng Ánh Đại học Ngoại thương, Giáo sư Ngô Bảo Châu… Đây là những hạt sạn cần loại bỏ, không để làm vấy bẩn ngành giáo dục, hủy hoại thế hệ trẻ của đất nước. Sẽ ra sao nếu những người ngày ngày đứng trên giảng đường, giáo dục thế hệ trẻ lại mang trong đầu tư tưởng phản động, chống phá.“Giặc” ở ngay sau lưng“Giặc ở sau lưng” hay “nỏ thần đã trao tay giặc” rồi? Ngẫm câu chuyện xưa mà sao giá trị nó trường tồn đến thế. Vẫn biết rằng vẫn có những thế lực luôn tìm cách cài tay chân vào làm nội gián đánh phá từ bên trong ra nhằm hạ uy tín thể chế, chế độ đấy nhưng nó có thực hiện được ý đồ hay không lại là do chính thái độ và hành động chủ quan. Như trường hợp bộ sách giáo khoa đang gây bức xúc dư luận cũng chẳng khác câu chuyện nỏ thần là mấy. Việc có hay không ý đồ núp danh cải cách giáo dục và xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa để phá hoại nền giáo dục thì còn phải chứng minh, nhưng để một tên chống Đảng, chửi chế độ như hát hay cầm trịch cả một Hội đồng thẩm định sách giáo khoa thì lại trúng ý đồ của chúng nó quá. Với vai trò thẩm định, chúng có thể yêu cầu các tác giả, nhà biên soạn điều chỉnh nội dung theo ý đồ nhằm đạt được mục đích phá hoại, từ những bộ sách có nội dung tốt có thể trở thành những bộ sách có nội dung xấu, không phù hợp thậm chí là dung tục; chúng có thể cố tình để lọt những bộ sách được soạn với mục đích gây khó cho hoạt động dạy và học cũng như gây phản ứng tiêu cực trong xã hội, làm nhiễu loạn dư luận, làm băng hoại niềm tin của quần chúng vào vai trò quản lý xã hội của Nhà nước… Ấy chính là chúng đã thực hiện được mưu đồ phá rất nhiều bài đăng chứa nội dung xuyên thêm Top Truyện Kiếm Hiệp Hay Nhất Hiện Nay Ai Cũng Nghiền, Top Truyện Kiếm Hiệp Hay Nên Đọc Ngay Hôm Nay!Sách giáo khoa là công cụ giáo dục và xây dựng nền tảng tri thức cho các thế hệ công dân là chủ tương lai của đất nước, nếu ví nó như cây nỏ thần hộ quốc thì việc giao cho những kẻ có tư tưởng phản loạn giữ vai trò thẩm định thì chẳng khác nào nỏ thần trao tay giặc. Là vô tình do kém hiểu biết hay cố ý làm loạn thì cũng đều phải làm cho rõ và xử cho nghiêm mới mong yên bề trị quốc. Mong rằng các cơ quan chức năng cần có biện pháp xử lý mạnh tay, không thể để những người mầm họa cho đất nước ở trong ngành giáo dục như vậy.
About Trần Đình Sử Giáo sư tiến sĩ Lý luận văn học, khoa Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội ĐỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC TỪ GÓC ĐỘ KÍ HIỆU HỌC Trần Đình Sử Do quan niệm văn học phản ánh hiện thực được hiểu giản đơn thô thiển một thời, bản chất kí hiệu của tác phẩm văn học bị che giấu, và như thế , mỗi khi đọc tác … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized ĐỌC THƠ TRỮ TÌNH TỪ GÓC ĐỘ KIẾN TẠO BÀI THƠ Trần Đình Sử Hàng ngày chúng ta vẫn giao lưu với nhau bằng tiếng nóí và chúng ta tự hiểu. Sở dĩ thế là vì chúng ta đã có năng lực sử dụng tiếng nói mà chúng ta giao tiếp. … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – SỰ TOẢ SÁNG CỦA CÁI ĐẸP VÀ LƯƠNG TRI NƠI NGỤC TỐI Vang bóng một thời là tập truyện ngắn được coi là kiệt tác trong văn học Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945, Chữ người tử tù là truyện ngắn xuất sắc nhất của tập truyện. Đọc truyện ngắn … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized VAI TRÒ SÁNG TẠO VĂN HOÁCỦA VĂN HỌC Nói tới văn hoá của một dân tộc không ai là không nghĩ tới văn học, bởi văn học có một vị trí không thể thiếu trong mỗi nền văn hoá. Tuy nhiên trong một thời gian dài do nhu … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized NGUYỄN DỮ VÀ TIÊN THOẠI TRUNG QUỐC QUA TRUYỆN TỪ THỨC LẤY VỢ TIÊN Nghiên cứu văn học so sánh giữa văn học cổ Việt Nam và văn học cổ Trung Quốc đang là một đề tài ngày càng được nhiều người quan tâm, cả trong nước lẫn ngoài nước. Đó là điều hợp … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VINH VÀ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỦA TÔI Trần Đình Sử Tại sao tôi đi theo nghề văn? Hồi tưởng lại những năm tháng đầu đời, có lẽ đó là một bí ẩn của số phận. Chúng tôi yêu thích văn, nhưng chưa hề có ý thức học … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized HẦU NHƯ TOÀN BỘ LÍ TUYẾT VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM LÀ KẾ THỪA CỦA LÍ THUYẾT MẶT TRẬN CÁNH TẢ VÀ VĂN HỌC VÔ SẢN LIÊN XÔ NHỮNG NĂM 30. CHỈ CẦN ĐỌC MỘT ĐOẠN DƯỚI ĐÂY LÀ RÕ. Trần Đình Sử trích dịch sách Tiến trình văn học trong bối cảnh văn hóa-lịch sử của E. Chernoivanenco, Odessa, Maijak, 1997, tr. 414-418. Năm 1928, nhà phê bình văn học xô viết V. N. Fritsche 1870-1929 đã viết “Chúng … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized GOLDBLATT HOWARD NÓI VỀ TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI Trần Đình Sử thuật và bình luận Howard là nhà Hán học nổi tiếng người Mĩ, là người dịch văn học Trung Quốc, đặc biệt ông đã dịch tiểu thuyết Vú to mông lớn của Mạc ngôn, khiến cho tác … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized ĐỌC BÀI THƠ TIẾNG THU CỦA LƯU TRỌNG LƯ Để minh họa việc đọc một bài thơ xuất phát từ văn bản chúng tôi chọn bài Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, bởi vì hiện có những cách hiểu khác nhau, và ngôn ngữ là thử thách hàng đầu để … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized Đọc tự sự Đọc tự sự cũng là đọc văn học nói chung, cần tuân thủ các cách đọc thông dụng. Đã có ba quan niệm về đọc văn học trong truyền thống. Một là đọc để tìm ra ý đồ tư tưởng … Tiếp tục đọc → Đăng tải tại Uncategorized
Khi bộ sách giáo khoa lớp 1 trở thành chủ đề bàn tán nhiều ngày qua, dư luận chú ý tới Hội đồng thẩm định, trong đó Giáo sư Trần Đình Sử là Chủ tịch Hội đồng. Và thật bất ngờ khi vào tài khoản FB mang tên ông, mới ngã ngửa ra là ông Sử lại có nhiều vấn đề phức tạp về tư tưởng, thậm chí có thể xếp vào hàng “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Tài khoản FB mang tên Trần Đình Sử đăng tải nhiều nội dung công kích chế độ. Giáo sư phản động Tại sao lại nói vậy? Lật lại lịch sử, Trần Đình Sử là một trong 72 kẻ nhân sĩ trí thức thoái hóa đòi sửa đổi Hiến pháp 1992, trong đó, đòi đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam CSVN, đòi đổi tên nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, đòi phi chính trị hóa các lực lượng vũ trang Nhân dân. Trần Đình Sử từng mượn tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hạ bệ chế độ và nền tư pháp của ta ngày nay. Cách đây mấy tháng, Trần Đình Sử còn công khai ủng hộ các đối tượng trong “tổ Đồng Thuận” và các luật sư bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa. Nếu thực sự tài khoản FB nói trên là của Giáo sư Trần Đình Sử, thành viên Hội đồng thẩm định bộ sách Giáo khoa lớp 1 đang gây tranh cãi trong những ngày vừa qua thì thật sự đáng lo ngại. Một giáo sư đầu ngành về giáo dục, viết sách, thẩm định sách cho cả một thế hệ mà có suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực như vậy, thử hỏi, chất lượng các sản phẩm của ông ta đến đâu, liệu có xứng đáng với hai chữ GIÁO SƯ hay không? Ông ta mở miệng là chửi bới Đảng, Nhà nước, nhưng lại quên rằng, mình được ăn học tử tế, trưởng thành từ đâu, ngoài mái trường Xã hội chủ nghĩa. Ăn cơm dân, mặc áo Đảng, được trọng dụng, phong danh hiệu Giáo sư, đâu phải để ông ta quay đầu chửi bới, đả kích trên mạng được chứ. Nếu muốn chống phá, thì hãy từ bỏ học hàm Giáo sư, từ bỏ ngành giáo, rồi hãy làm những gì ông muốn. Thêm một mang bài đăng mang tính công kích của tài khoản FB Trần Đình Sử. Giáo dục hay bất kỳ ngành nào cũng phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, có thế thì mới có được định hướng đúng, có thế thì mới không mơ hồ và bát nháo. Ông là Chủ tịch Hội đồng thẩm định sách Giáo khoa, hàm giáo sư mà tư duy, nhận thức ấu trĩ như thế, thảo nào mà sách Giáo khoa hiện nay chẳng khác nào mớ rau tập tàng, lẩu thập cẩm. Mấy năm gần đây, chúng ta thấy xuất hiện nhiều Phó Giáo sư, Tiến sỹ có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thường xuyên viết các bài viết có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước như trường hợp PGS Đỗ Ngọc Thống Vụ Giáo dục Trung học, PGS Nguyễn Hoàng Ánh Đại học Ngoại thương, Giáo sư Ngô Bảo Châu… Đây là những hạt sạn cần loại bỏ, không để làm vấy bẩn ngành giáo dục, hủy hoại thế hệ trẻ của đất nước. Sẽ ra sao nếu những người ngày ngày đứng trên giảng đường, giáo dục thế hệ trẻ lại mang trong đầu tư tưởng phản động, chống phá. “Giặc” ở ngay sau lưng “Giặc ở sau lưng” hay “nỏ thần đã trao tay giặc” rồi? Ngẫm câu chuyện xưa mà sao giá trị nó trường tồn đến thế. Vẫn biết rằng vẫn có những thế lực luôn tìm cách cài tay chân vào làm nội gián đánh phá từ bên trong ra nhằm hạ uy tín thể chế, chế độ đấy nhưng nó có thực hiện được ý đồ hay không lại là do chính thái độ và hành động chủ quan. Như trường hợp bộ sách giáo khoa đang gây bức xúc dư luận cũng chẳng khác câu chuyện nỏ thần là mấy. Việc có hay không ý đồ núp danh cải cách giáo dục và xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa để phá hoại nền giáo dục thì còn phải chứng minh, nhưng để một tên chống Đảng, chửi chế độ như hát hay cầm trịch cả một Hội đồng thẩm định sách giáo khoa thì lại trúng ý đồ của chúng nó quá. Với vai trò thẩm định, chúng có thể yêu cầu các tác giả, nhà biên soạn điều chỉnh nội dung theo ý đồ nhằm đạt được mục đích phá hoại, từ những bộ sách có nội dung tốt có thể trở thành những bộ sách có nội dung xấu, không phù hợp thậm chí là dung tục; chúng có thể cố tình để lọt những bộ sách được soạn với mục đích gây khó cho hoạt động dạy và học cũng như gây phản ứng tiêu cực trong xã hội, làm nhiễu loạn dư luận, làm băng hoại niềm tin của quần chúng vào vai trò quản lý xã hội của Nhà nước… Ấy chính là chúng đã thực hiện được mưu đồ phá hoại. Có rất nhiều bài đăng chứa nội dung xuyên tạc. Sách giáo khoa là công cụ giáo dục và xây dựng nền tảng tri thức cho các thế hệ công dân là chủ tương lai của đất nước, nếu ví nó như cây nỏ thần hộ quốc thì việc giao cho những kẻ có tư tưởng phản loạn giữ vai trò thẩm định thì chẳng khác nào nỏ thần trao tay giặc. Là vô tình do kém hiểu biết hay cố ý làm loạn thì cũng đều phải làm cho rõ và xử cho nghiêm mới mong yên bề trị quốc. Mong rằng các cơ quan chức năng cần có biện pháp xử lý mạnh tay, không thể để những người mầm họa cho đất nước ở trong ngành giáo dục như vậy. Lê Dung Anh *Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả
giáo sư trần đình sử