Phát triển trí Thông minh Đa dạng - Multiple Intelligences Development Activities dựa theo học thuyết Trí Thông minh đa dạng của Howard Gardner Mỗi người đều có 8 trí thông minh nhưng thể hiện khác nhau về mức độ, và đặc biệt là mọi trí thông minh đều quan trọng. Đặc biệt học sinh trong độ tuổi 9-11- độ tuổi của Chính phủ Nhật Bản sẽ bắt đầu triển khai chương trình hỗ trợ du lịch nội địa mới từ ngày 11/10 đến hết tháng 12 năm nay. Bánh gạo truyền thống Nhật Bản trở thành 'kẻ sát nhân thầm lặng' lấy mạng vô số người, đặc biệt là người cao tuổi. đối với chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy, kiến thức, hành động cho cấp ủy, chính quyền, cán bộ; tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; người dân, cộng đồng và khách du lịch về phát triển du lịch nông thôn bền vững trong xây dựng … Mô tả công việc Tham gia vào các dự án phát triển chương trình đào tạo do FSB thực hiện ( nghiên cứu phát triển chương trình đào tạo mới, hoàn thiện đóng gói chương trình đang có) Thực hiện các nghiên cứu đánh giá về ngành theo yêu cầu Phát triển đối tác quốc tế Triển khai dự án kiểm định quốc tế Hỗ trợ các công việc điều phối/ triển khai khác. Phát triển chương trình Cam kết đồng hành Đánh giá chất lượng Mr. Zachary C. Jones - Tổng Hiệu trưởng trường BalboaSchool Mr. Phạm Tuấn Đạt - Giám đốc điều hành hệ thống trường Xanh Tuệ Đức Mrs. Phạm Thị Tâm - Hiệu trưởng trường Tiểu học và THCS Xanh Tuệ Đức Mr. Dương Quang Minh - Thạc sĩ CNTT- Đại học Trayer, Hoa Kỳ Ngoài ra, xu thế phát triển chương trình và sách giáo khoacủa thế giới thay đổi rất nhanh; có nhiều thành tựu mới của khoa học giáo dục cần được bổ sung kịp thời vào chương trình giáo dục, nhiều nước có nền giáo dục phát triển đã chuyển hướng từ chương trình coi 1. Về đối tượng lập Chương trình phát triển đô thị. Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 đã quy định "Việc phân loại đô thị được thực hiện trên cơ sở Chương trình phát triển đô thị quốc gia, Chương trình phát triển đô thị toàn tỉnh và Chương trình phát triển từng đô thị để quản lý phát triển đô Tiếng Anh. Mục tiêu của chương trình Tiếng Anh Kumon (EFL) là tập trung phát triển khả năng đọc hiểu nâng cao. Chương trình được thiết kế riêng biệt cho học sinh ở những quốc gia sử dụng Tiếng Anh như một ngoại ngữ, giúp các em khám phá niềm vui khi học ngôn ngữ này, đặc biệt là ở kỹ năng đọc. Vay Nhanh Fast Money. B1 PHAT TRIỂN CHƯƠNG TRINHB1 PHAT TRIỂN CHƯƠNG TRINHNăng lực phát triển chương trình là năng lực cốt lõi của người giảng viên đại học sư phạm; Việc xác định năng lực cốt lõi của giảng viên đại học sư phạm trên cơ sở đổi mới giáo dục phổ thông, vai trò của trường sư phạm đối với đào tạo giáo viên, vấn đề phát triển chương trình ở trường đại học sư phạm và năng lực phát triển chương trình của giảng viên; Các năng lực thành phần của năng lực phát triển chương trình, những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực phát triển chương trình của giảng viên. 69% found this document useful 13 votes10K views41 pagesDescriptionNội dung bài giảng môn phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thôngCopyright© © All Rights ReservedAvailable FormatsPDF, TXT or read online from ScribdShare this documentDid you find this document useful?69% found this document useful 13 votes10K views41 pagesNội dung bài giảng môn phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thôngDescriptionNội dung bài giảng môn phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thôngFull description PHÁT TRIỂN CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG Mã học phần CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CTGD VÀ PHÁT TRIỂN CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PT CTGD I. CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC VÀ CHƢƠNG TRÌNH MÔN HỌC 1. CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC a. Khái niệm Chương trình giáo dục là một thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình giáo dục, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục. Về cơ bản, hiện nay chương trình giáo dục được xem như là tập hợp các mục tiêu và giá trị có thể được hình thành ở người học thông qua các hoạt động được kế hoạch hóa và tổ chức trong nhà trường, gắn liền với đời sống xã hội. Mức độ đạt các mục tiêu ấy là thể hiện tính hiệu quả của một chương trình giáo dục. Có thể nói, Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra . Nguyễn Hữu Chí, Viện KHGD 2002. Như vậy, những thành phần cơ bản của một chương trình giáo dục có thể là - Mục tiêu xây dựng mô hình nhân cách người học - Chuẩn đầu ra – yêu cầu căn bản và tối thiểu về kết quả cuối cùng mà người học phải đạt được phẩm chất và năng lực - Nội dung giáo dục những nội dung người học có thể biết, có thể vận dụng trong thực tiễn - Hình thức tổ chức giáo dục trường lớp, quy mô lớp học…. - Phương pháp giáo dục cách thức giảng dạy nội dung giáo dục - Đánh giá kết quả giáo dục Phân theo cấp độ quản lý chương trình có - Chương trình quốc gia - Chương trình địa phương - Chương trình nhà trường Chương trình quốc gia là “bản sơ đồ thiết kế của chương trình giáo dục”, làm cơ sở để xây dựng, thực hiện chế độ, chính sách thi cử, cấp bằng tốt nghiệp, phát triển học liệu, sách giáo khoa, thiết bị giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý, xây dựng cơ chế tài chính, hành chính trong hệ thống giáo dục. Chương trình giáo dục quốc gia chính là CTGD tổng thể. Chương trình giáo dục tổng thể khung chương trình là phương hướng và kế hoạch khái quát của toàn bộ chương trình GDPT, trong đó quy định những vấn đề chung của GDPT, bao gồm Quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu chương trình GDPT và mục tiêu CTGD của từng cấp học, yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung của học sinh cuối mỗi cấp học, các lĩnh vực giáo dục và hệ thống các môn học, thời lượng của từng môn học, định hướng nội dung giáo dục bắt buộc ở từng lĩnh vực giáo dục và phân chia vào các môn học ở từng cấp học đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc, định hướng về phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và cách thức đánh giá chất lượng giáo dục của từng môn học, điều kiện tối thiểu của nhà trường để thực hiện được chương trình . Chương trình địa phương chính là CTGD cấp Sở. Chương trình giáo dục cấp Sở là văn bản hướng dẫn việc điều hành, tổ chức chương trình giáo dục cho các nhà trường. CTGD địa phương có vai trò cầu nối, ứng dụng linh hoạt chương trình giáo dục quốc gia và chuẩn địa phương; hướng dẫn cơ bản để phát triển học liệu dạy học tại địa phương. Chương trình nhà trường, là sự phát triển chương trình quốc gia trên cơ sở căn cứ vào mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung dạy học... chung. Từ chương trình quốc gia, mỗi trường căn cứ vào điều kiện cụ thể của trường mình, sẽ đề xuất mục tiêu, sứ mạng và cách thực thi chương trình quốc gia riêng để đảm bảo chất lượng giáo dục của trường mình. Chương trình khung môn học là khung kế hoạch giáo dục đề cập đến những yếu tố dạy và học cơ bản mang tính quốc gia mà các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân cần phải tuân thủ. Chương trình môn học nêu rõ những định hướng mang tính nguyên tắc cho các hoạt động dạy và học xác định các lĩnh vực học tập cơ bản, trong đó mô tả những kiến thức và các kỹ năng cơ bản mà học sinh cần có, xác định các phẩm chất và thái độ cần hình thành ở học sinh, khẳng định các tuyên bố có tính quốc gia về mức độ của các kiến thức, kỹ năng và thái độ học sinh cần đạt được và phác thảo các hình thức đánh giá ở cấp trường và cấp quốc gia. Trên cơ sở chương trình khung môn học, các cơ sở giáo dục tổ chức xây dựng những chương trình chi tiết hay còn gọi là chương trình của cơ sở giáo dục . Đây là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy của cơ sở giáo dục trong một khóa học phản ánh cụ thể mục tiêu, nội dung, cấu trúc, trình tự cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các hoạt động giáo dục. dạy học cho toàn khóa học và cho từng môn học, phần học, chương mục và bài giảng… của cơ sở giáo dục đó. b. Chƣơng trình giáo dục và quá trình dạy học Chương trình giáo dục là nội dung, còn quá trình dạy học là phương tiện , thiết kế chương trình giáo dục là xây dựng kế hoạch cho các hoạt động dạy và học, còn quá trình dạy học là đưa kế hoạch đó vào thực thi; do vậy việc hoạch định thiết kế chương trình giáo dục phải đi trước việc hoạch định, triển khai quá trình dạy học. Mô hình mối quan hệ giữa CTGD và QTDH Chương trình giáo dục và quá trình dạy học là hai thực thể tác động qua lại theo một chu trình liên tục, trong đó thông tin phản hồi là cầu nối quan trọng, gắn kết hai thực thể thành những bộ phận cấu thành của một khối cầu, một chu trình quay vòng liên tục, tạo ra sự hoàn thiện không ngừng của cả hai thực thể. Mô hình này có ngụ ý chương trình giáo dục quy định, hướng dẫn quá trình dạy học; trong quá trình đó chương trình giáo dục luôn nhận thông tin phản hồi từ quá trình dạy học để điều chỉnh mình rồi tác động trở lại quá trình dạy học. Quá trình này diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại và không bao giờ kết thúc. 2. CHƢƠNG TRÌNH MÔN HỌC a. Khái niệm Môn học là bộ phận của chương trình học bao gồm những tri thức về mộ t khoa học nhất định. Dựa vào hình thức và tính chất nội dung, môn học được chia làm 3 loại - Môn học lý thuyết là môn học giáo viên sẽ lựa chọn trong nội dung dạy học những vấn đề cốt lõi như khái niệm, định nghĩa, quy luật, đặc trưng, công thức… và tìm các phương pháp phù hợp truyền đạt kiến thức cho học sinh, các vấn đề còn lại giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự học, tự nghiên cứu, đồng thời hướng dẫn các hình thức kiểm tra, đánh giá đối với nội dung môn học. Chương trình giáo dục Quá trình dạy học Ngày đăng 08/07/2014, 2033 Bài giảng Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo Trần Ngoc GiaoBài giảng Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo trình bày về các bối cảnh tác động đến giáo dục và đào tạo như toàn cầu hóa, kinh tế tri thức, công nghệ thông tin; các bước phát triển chương trình, kết quả của thiết kế chương trình đào 52p cheap_12 080720 - Xem thêm -Xem thêm Bài giảng Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo, Bài giảng Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo, Download Free PDFDownload Free PDFPHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤCPHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤCPHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤCPHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤCLê Thanh Văn Phát triển phần mềm là một thị trường vô cùng rộng lớn và phức tạp, có rất nhiều quy trình, quy trình khác nhau được các công ty áp dụng để phát triển và phát hành các sản phẩm phần mềm. Việc lựa chọn quy trình thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhu cầu kinh doanh, chuyên môn, nhóm phát triển, loại ứng dụng, mục tiêu kinh doanh, khung thời gian phát triển, Quá trình phát triển phần mềm được gọi là SDLC Software Development Life Cycle. Nó bao gồm một số giai đoạn như lập kế hoạch, phân tích, thiết kế và thực hiện. Nhiều mô hình SDLC đã được tạo ra như thác nước, xoắn ốc và mô hình chữ V, Mỗi quy trình trình bày một cách tiếp cận khác nhau để lập kế hoạch, thiết kế, phát triển, thử nghiệm và thực hiện dự án tổng thể. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu hai quy trình phổ biến hiện nay là Thác nước và SCRUM. 1. Quy trình phát triển phần mềm truyền thống SDLC. Mô hình Vòng đời phát triển phần mềm SDLC bao gồm các giai đoạn sau Requirement planing and analysis Lập kế hoạch và phân tích yêu cầu Yêu cầu được thu thập trong giai đoạn này. Giai đoạn này là trọng tâm chính của dự án. Các cuộc họp với người quản lý, với các bên liên quan và người dùng được tổ chức để xác định yêu cầu như Ai sẽ sử dụng hệ thống? Họ sẽ sử dụng hệ thống như thế nào? Dữ liệu nào nên được nhập vào hệ thống? Dữ liệu nào nên được xuất bởi hệ thống? Đây là những câu hỏi chung được trả lời trong giai đoạn thu thập yêu cầu. Sau đó các yêu cầu này được phân tích về tính hợp lệ của chúng và khả năng kết hợp với các yêu cầu khác trong hệ thống. Cuối cùng, một tài liệu đăc tả yêu cầu được tạo ra, phục vụ cho giai đoạn tiếp theo của quy trình. Nhóm kiểm thử tuân theo quy trình kiểm thử phần mềm và bắt đầu giai đoạn lập kế hoạch kiểm thử sau khi phân tích yêu cầu được hoàn thành. Design Thiết kế Trong giai đoạn này, thiết kế hệ thống và phần mềm được chuẩn bị từ các thông số kỹ thuật yêu cầu đã được nghiên cứu trong giai đoạn đầu tiên. Thiết kế hệ thống giúp xác định các yêu cầu phần cứng và kiến trúc hệ thống tổng thể. Các thông số kỹ thuật thiết kế hệ thống phục vụ như đầu vào cho giai đoạn tiếp theo của mô hình. Trong giai đoạn này, tester cũng nên viết testplan, checklist, testcase,... để chuẩn bị cho việc kiểm thử. Implementation or coding Thực hiện / Mã hóa Khi nhận được tài liệu thiết kế hệ thống, công việc được chia thành các mô-đun / đơn vị và việc mã hóa được bắt đầu. Vì, trong giai đoạn này mã được tạo ra nên nó là trọng tâm chính cho phát triển phần mềm. Đây là giai đoạn dài nhất của vòng đời phát triển phần mềm. Testing Thử nghiệm Sau khi code xong, mã nguồn được kiểm thử dựa trên spec đã được thu thập trong giai đoạn đầu và dựa trên tính khả dụng người dùng. Trong giai đoạn này tất cả các loại kiểm thử chức năng như kiểm thử đơn vị, kiểm thử tích hợp, kiểm tra hệ thống, kiểm tra chấp nhận được thực hiện cùng với các kiểm thử phi chức năng cũng được thực hiện. Deployment Triển khai Sau khi thử nghiệm thành công, sản phẩm được phân phối / triển khai cho khách hàng để sử dụng. Ngay sau khi sản phẩm được cung cấp cho khách hàng, trước tiên họ sẽ thực hiện kiểm thử beta. Nếu có bất kỳ thay đổi nào được yêu cầu hoặc nếu bất kỳ lỗi nào tồn tại, thì sẽ báo cáo cho nhóm kỹ thuật. Một khi những lỗi đó được khắc phục hoặc các lỗi là cố định thì việc triển khai cuối cùng sẽ xảy ra. Maintenance Bảo trì Sau khi đưa sản phẩm phần mềm cho khách hàng sử dụng nếu phát sinh lỗi và cần giải quyết theo thời gian thì sẽ được đưa lại bộ phận chăm sóc để khắc phục. Có rất nhiều mô hình phát triển phần mềm trong SDLC như thác nước, mô hình chữ V, xoắn ốc… Nhưng thác nước là mô hình SDLC truyền thống nổi tiếng và được nhiều người biết đến rộng rãi nhất. Nó chỉ thực hiện theo một quy trình tuần tự, chảy đều đặn xuống dưới như một dòng thác và được sử dụng trong quá trình phát triển phần mềm. Không thể thay đổi bất cứ điều gì khi phát sinh yêu cầu của khách hàng, vì nó luôn tuân theo một thứ tự nhất định. Điều này dẫn đến việc phải đối mặt với một số vấn đề như khách hàng sẽ không nhận được sự hài lòng, yêu cầu sẽ được chờ xử lý, không có lợi nhuận, lãng phí thời gian. 2. AGILE Nhịp độ môi trường kinh doanh ngày càng nhanh buộc các công ty phải nhanh chóng thay đổi để đáp ứng với các điều kiện thị trường đang biến động. Để có thể duy trì tính cạnh tranh, các sản phẩm cần phải thích ứng với những thay đổi, nhu cầu trên thị trường, cho ra các tính năng mới và bổ sung với tốc độ nhanh. Do đó, phần lớn các công ty về phần mềm hiện nay đang chuyển sang mô hình Agile. Agile là một quy trình có nhiều khung công tác như SCRUM, Kanban, Scrumban, vv SCRUM được khởi xướng bởi Ken Swaber vào năm 1995. Nó là một trong các quy trình phát triển Agile vì nó có chứa tất cả các đặc điểm cốt lõi của Agile . SCRUM là một nhóm hoạt động, được ví như là một bao gói, trong đó mọi người trong nhóm cùng nhau thực hiện các công việc. Nó thực hiện dự án với thời gian và chi phí tối thiểu. SCRUM là quy trình mạnh và có cấu trúc thể hiện rõ nhất của Agile. Người ta nói rằng “SCRUM giống như một người mẹ chồng. Mong đợi bạn tuân theo mọi yêu cầu mà nó đã xác định và tuyệt vời trong việc chỉ ra các sai sót ”. Có một số bước cụ thể, không thay đổi trong quy trình Scrum. Bao gồm Product backlog Product Backlog là danh sách các chức năng cần được phát triển của sản phẩm. Danh sách này do Product Owner quyết định. Nó thường xuyên được cập nhật để đáp ứng được nhu cầu thay đổi của khách hàng cũng như các điều kiện của dự án. Sprint planning Như chúng ta đã biết ở trên Sprint là một giai đoạn phát triển có thời gian từ 2-4 tuần. Để chuẩn bị cho mỗi Sprint team cần phải họp để xác định những chức năng nào story sẽ phát triển trong giai đoạn này sprint backlog, kết quả đầu ra dự kiến Goal, kết quả Release, Estimate ước lượng ai làm việc gì và thảo luận các giải pháp. Tất cả được ghi thành biên bản để có cơ sở thực hiện và Review sau này. Backlog refinement/grooming Vào cuối một sprint, nhóm phát triển và PO phải đảm bảo backlog đã sẵn sàng cho sprint tiếp theo. Nhóm có thể loại bỏ các chức năng không liên quan, tạo vấn đề mới, đánh giá lại mức độ ưu tiên của các vấn đề hoặc chia nhỏ các yêu cầu của người dùng thành các tác vụ nhỏ hơn. Mục đích của cuộc họp này là đảm bảo việc tồn đọng chỉ chứa các mục có liên quan, chi tiết, và đáp ứng các mục tiêu của dự án. Daily Scrum meetings là một cuộc họp đứng lên 15 phút, nơi mỗi thành viên trong nhóm nói về mục tiêu của họ và bất kỳ vấn đề nào nảy sinh. cuộc họp diễn ra mỗi ngày trong Sprint, giúp dễ dàng theo dỗi các công việc đang thực hiện , chưa thực hiện hay sắp thực cuộc họp này mỗi người sẽ phải tự trả lời 3 câu hỏi Hôm qua đã làm những gì ? Có gặp khó khăn gì không? Hôm nay sẽ làm gì ? Sprint review meeting Vào cuối mỗi Sprint, nhóm trình bày công việc họ đã hoàn thành tại cuộc họp đánh giá. Cuộc họp này phải trình bày trực tiếp, không thông qua báo cáo hay bản trình bày PowerPoint. Sprint retrospective meeting Vào cuối mỗi Sprint, nhóm nghiên cứu phản ánh mức độ làm việc với nhau và thảo luận về bất kỳ thay đổi nào cần được thực hiện trong Sprint tiếp theo. Nhóm có thể nói về những gì diễn ra tốt đẹp trong thời gian Sprint vừa qua , điều gì đã xảy ra và những gì họ có thể làm khác đi. 3. So sánh giữa quy trình phát triển phần mềm truyền thống Mô hình Thác nước và SCRUM Agile STT Mô tả SDLC truyền thống SCRUM 1 Đối tượng Phân tích nghiệp vụBA,Quản lý chu trình, Quản lý dự án, Phát triển phần mềm Dev,Kiểm thử phần mềm Test,Thiết kế/ giao diện người dùng Người chịu tránh nhiệm sản phẩm PO,Đảm bảo sự vận hành Scrum Master, Nhóm Scrum chức năng chéo 2 Quy trình Phân tích, thiết kế, phát triển. Triển khai cần được hoàn thành cho mọi giai đoạn của dự án. Mỗi giai đoạn của dự án có nhiều lần lặp lại. Phân tích, thiết kế, phát triển. Triển khai cần phải được hoàn thành trong mỗi vòng lặp. 3 Thời gian chuyển giao Dựa trên thời gian dự án tổng thể Từ 2-4 tuần 4 Kích thước nhóm Số thành viên nhóm là tập trung, quy mô nhóm có thể thay đổi từ 2 đến 100 thành viên. Chia nhỏ các nhóm lớn thành các nhóm nhỏ, từ 2 đến 8 thành viên nhóm có sự phối hợp và cộng tác cao. 5 Tính khả dụng của khách hàng Sự tham gia của khách hàng ngày càng quan trọng hơn. Cách tiếp cận hợp tác hơn, nơi sự tham gia của khách hàng được đề cao. 6 Thay đổi cách quản lý Phải dựa vào các điều khoản của hợp phí cho một thay đổi có thể rất cao nếu thay đổi có tác động lớn hơn đến thiết kế. Thích ứng với những thay đổi. Chi phí cho một thay đổi thấp hơn khi phạm vi được xác định cho các thời gian chuyển giao nhỏ hơn. 7 Độ ưu tiên Nhấn mạnh vào việc thực hiện các xây dựng đã được đưa ra trong yêu cầu. Làm tăng việc có các tính năng được xây dựng mà không đem lại giá trị cho ứng dụng. Tập trung vào việc thực hiện các tính năng có giá trị quan trọng trước tiên. Giảm nguy cơ có các tính năng không sử dụng được / không được sử dụng được tích hợp trong ứng dụng. 8 Kích thước dự án Tốt nhất là dự án dài hạn cái mà đòi hỏi nhiều tài liệu và nhiều sự tham gia của các bên liên quan. Linh hoạt cho các dự án nhỏ từ 2-3 tuần đối với các dự án chạy trong nhiều năm với nhau. 9 Tài trợ/ ROI Hoạt động tốt với các dự án có kinh phí cố định trong đó phạm vi và độ lệch thỏa thuận bị hạn chế. ROI đạt được sau khi triển khai thành công dự án. Hoạt động tốt với tất cả các dự án T & M và không cố định. Với nhóm phù hợp, ROI có thể được nhìn thấy trong một khoảng thời gian ngắn hơn. 10 Suy nghĩ tổng quan Ngày nay, có một số doanh nghiệp lớn sử dụng quy trình thác nước trong ngành công nghiệp phần mềm. Tôi cảm thấy quy trình này thích hợp nhất với các lĩnh vực như xây dựng, ví dụ xây dựng một cây cầu. Nhưng đã có nhiều ý kiến cho rằng, ngay cả các lĩnh vực xây dựng hiện nay cũng đang chuyển sang quy trình Lean, Kanban Agile dựa trên sự tiếp cận để loại bỏ các hoang phí từ quá trình của họ. Scrum phù hợp hơn với môi trường phát triển nhịp độ nhanh hoặc ngành sản xuất liên tục. 4. Kết luận Quy trình SDLC truyền thống Thác nước hay quy trình SDLC mới SCRUM quy trình nào cũng đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, việc lựa chọn quy trình nào là phụ thuộc vào tổ chức và dự án thực hiện SCRUM là tốt nhất nếu các yêu cầu thường xuyên thay đổi. WATERFALL là tốt nhất nếu không có thay đổi trong yêu cầu. Bạn nên sử dụng Waterfall cho các dự án mà bạn đã có tất cả tài liệu từ đầu đến cuối, và không cần phải thay đổi gì khi thực hiện. Bất cứ khi nào bạn phải đối mặt với một dự án chưa có mục tiêu cuối rõ ràng và yêu cầu phải đổi mới liên tục, hãy dùng Agile. Tài liệu tham khảo

phát triển chương trình