Vào ngày 1/11 hàng năm, người Celt sẽ tổ chức lễ hội Samhain để đánh dấu cho sự kết thúc của mùa hè và thời tiết chuyển sang đông, đây cũng là thời điểm để khởi đầu một năm mới. Họ tin rằng khi mùa hè kết thúc và mùa đông lạnh lẽo, tràn đầy bóng tối bắt
Vay Tiền Online Chuyển Khoản Ngay. Mấy bữa nay mình cứ băn khoăn mãi trong đầu một câu hỏi Chúng ta đi làm để làm gì?. Hay diễn giải ra một cách hiểu khác là “Tại sao đa số chúng ta phải bỏ ra thời gian ban ngày để đến công ty để đi làm.“ Hiện tại bản thân mình đang thấy được hai câu trả lời cho câu hỏi trên đó là 1 Chúng ta đi làm để kiếm tiền. Nhưng mình nghĩ rằng tiền chỉ là phương tiện thôi. Tiền đó chúng ta dùng để mua niềm hạnh phúc cá nhân, thời gian với người thân yêu và sự tự do cho bản thân. 2 Chúng ta đi làm để tìm kiếm ý nghĩa. Cuộc đời một người mà chẳng có ý nghĩa thì giống như ta bước vào một con đường mà không biết mình đang đi đâu ấy. Nên việc đi làm mang lại cho ta ý nghĩa. Vậy chốt lại, đi làm giúp ta có được những tận hưởng cá nhân, thêm thời gian với người thân yêu, thêm sự tự do cho bản thân sau này và có ý nghĩa để tồn tại. Chính vì những mục đích đó và có thể cả những mục đích khác, mình thấy rằng rất nhiều người đang bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức của bản thân để cống hiến cho công việc. Biểu hiện của việc đó là luôn luôn có mặt ở công ty rất sớm và về rất muộn, luôn luôn sẵn sàng cho công việc khi được giao. Những người này luôn tự nhủ với bản thân rằng, cố gắng vài năm tuổi trẻ, sau này già sẽ tận hưởng những thứ ở trên sau. Nhưng như vậy có đúng không nhỉ? Mình tự đặt ra câu hỏi. Tại sao ta không tận hưởng luôn từ bây giờ? Tại sao tuổi trẻ phải cày cuốc, về già với dành thời gian xả hơi, cho gia đình, cho sự tự do của bản thân, vân vân. Những điều đó ta có thể tìm luôn từ bây giờ được mà. Vậy ta có thể tận hưởng những cái đó bằng cách nào? 1. Tạo thói quen buổi sáng Mình quan sát thấy rằng, dù là học sinh, người mới đi làm hay đã đi làm nhiều năm, thông thường buổi sáng trước 8 giờ sáng đều có thể gọi là thời gian riêng cho bản thân mình. Thời gian riêng cho bản thân mình hiếm hoi lắm nhé. Đó là khoảng thời gian mình không phải lo nghĩ gì về áp lực công việc cả, không bị bạn bè rủ rê, không bị sếp giao việc, nói chung là chẳng có ai làm phiền cả. Nếu bạn đang có được khoảng thời gian đó, hãy biết trân trọng và giữ nó. Đừng tranh thủ lôi thêm việc về nhà để làm buổi sáng. Đừng hẹn hò với ai vào giờ này thi thoảng thì được, thay vào đó hãy xây dưng một danh sách thói quen buổi sáng cố định cho riêng mình. Nếu các bạn đã đọc nhiều sách self-help, các bạn sẽ thấy rằng, người nổi tiếng nào cũng có một danh sách các việc mà họ thường làm buổi sáng sau khi ngủ dậy hết. Và nếu bạn chưa có thì cũng nên lập ngay một danh sách. Nếu bạn dậy từ 4 giờ sáng, bạn có tận 4 tiếng riêng cho bản thân. Nếu 6 giờ bạn mới dậy, 2 tiếng cũng là khá tốt rồi. Một số thói quen mà mình đang làm đều đặn các buổi sáng, các bạn có thể tham khảo, không nhất thiết phải làm theo hết Gấp chăn màn gọn gàng sau khi ngủ một ly nước mật ong và tiếng Tây Ban Nha trên đẩy 100 ít nhất một chương nấu đồ ăn nước 5 phút bằng cách ra ban công nhìn xung quanh và hít thở không khí trong lành. 2. Tự tạo thời gian cho bản thân và cho người thân yêu Nếu mục tiêu của bạn là muốn có thêm thời gian cho bản thân hoặc có thêm thời gian cho ba mẹ, người yêu hay ai đó quan trọng – bạn phải tự mình tạo ra thôi. Đừng chờ đến khi ít việc thì mới sắp xếp. Chúng ta hay có thói quen là làm hết việc thì mới dành thời gian nghỉ ngơi;gặp hết đối tác rồi mới dành thời gian cho vợ/người yêu/ba mẹ; Ta luôn coi công việc trước, mà lúc nào cũng lại muốn cân bằng cuộc sống, vậy đâu có được. Giải pháp mình làm đó là, ngay từ đầu tuần phải lên lịch cho việc chơi và thời gian cho người quan trọng. Ít hay nhiều chưa biết, nhưng phải có. Ví dụ, ban ngày mình đi làm toàn thời gian. Tối và cuối tuần thì mình thường có lớp dậy thêm. Tuy nhiên, tuần nào cũng vậy, mình luôn để vào lịch 1 buổi tối rảnh cho bản thân và 1 buổi tối rảnh cho người yêu. Mình coi hai lịch này quan trọng và khẩn cấp giống như việc họp với tổng giám đốc vậy, không thể thay thế được. Vì nó quan trọng, nên mình sẽ không để việc gì đó xen vào lịch này. Ví dụ, nếu mình đã có lịch thứ 5 đi chơi với người yêu từ đầu tuần, bỗng đến sát ngày có một lịch hẹn đối tác đúng giờ đó thì sao? Mình sẽ từ chối đối tác vì đã có lịch rồi. Đương nhiên, để làm được điều này, các bạn nên tập trước thói quen lên lịch cho 1 tuần, tức là bất kỳ lịch gặp gỡ nào đều phải hẹn trước 1 tuần – bắt chước tác phong của giám đốc cho quen. 3. Hãy tập trung 100% cho việc mình đang làm Bất kỳ việc gì, không chỉ là công việc. Ví dụ, khi ngồi ăn, hãy hạn chế nói chuyện hay lướt điện thoại, tập trung thưởng thức món ăn thôi. Khi đi bộ đi dạo, hãy tận hưởng từng bước chân chậm rãi, không khí xung quanh, đừng vừa đi vừa nghĩ xem việc này giải quyết thế nào, việc kia giải quyết ra sao. Khi xem phim, hãy tập trung thưởng thức bộ phim, đừng vừa xem vừa lướt Insta, YouTube. Khi làm việc, hãy dùng phương pháp Pomodoro để tập trung hoàn toàn vào công việc. Chỉ cần các bạn tập trung và bất kỳ việc gì các bạn làm, không suy nghĩ, không tơ tưởng sang việc khác, các bạn sẽ thấy chất lượng cuộc sống tăng lên nhiều. Chúng ta đi làm để có tiền mua hạnh phúc, mua tiện nghi, mua thời gian. Nhưng không nhất thiết chúng ta phải hi sinh 20-30 năm cuộc đời cho việc đi làm tối mắt tối mũi. Thực tế, nếu ta biết cách, ta có thể tận hưởng được ngay từ bây giờ mà. Bạn có thể đăng ký tư vấn hướng nghiệp hoặc phát triển bản thân cùng Tuấn Anh tại Các bài viết khác của Tuấn Anh
Tôi còn nhớ năm tôi lên sáu, một lần tôi hỏi mẹ „Mẹ ơi, con người ta sống để làm gì?”. Câu hỏi ấy xuất hiện và ám ảnh suốt một thời gian dài trong đầu óc non nớt của tôi. Khi ấy, đối với tôi, mọi thứ chắc chắn phải có một câu trả lời duy nhất còn chưa biết rằng đó là một trong những câu hỏi lớn nhất từ bao đời nay của triết học, tôn giáo, nghệ thuật, tâm lý học..., và trên đời này có rất nhiều câu hỏi chẳng bao giờ có lời giải đáp, hay nói một cách khác, chúng có vô số câu trả nghĩa sự tồn tại của chúng ta là gì? Ta phải sống ra sao?Trong một bài báo của Adam Szostkiewicz trên tạp chí Poliktyka tôi mới đọc gần đây, tác giả giới thiệu học thuyết của Viktor Frankl 1905-1997, bác sỹ tâm lý học người Áo nổi tiếng thế giới, người từng được đề cử cho giải thưởng Nobel về hòa Frankl cho rằng con người cần đến một ý nghĩa trong đời. Cuộc sống sẽ làm ta đau đớn nếu con người cảm thấy trống rỗng trong sự tồn tại. Cuộc đời ông là minh chứng tốt nhất cho điều này, tiểu sử phi thường của ông chính là điều bảo đảm độ tin cậy cho những gì ông viết, khiến sách của ông trở thành bestseller ở nhiều nước trên thế giới, từ Mỹ qua Nhật, từ Tây sang như Sigmund Freud, bác sỹ Frank là người gốc Do Thái. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông mở phòng tư vấn tâm thần miễn phí cho thanh niên, công tác với các tên tuổi lẫy lừng như Freud và Alfred Adler. Năm 1938, những kẻ quốc xã lên nắm quyền ở Áo. Frank có thể bỏ trốn, ông có thị thực đi Mỹ, nhưng ông không muốn bỏ lại cha mẹ già. Ông được phép hành nghề bác sỹ tâm thần tới năm 1942, nhưng chỉ trong bệnh viện dành cho người Do Thái ở Vienna. Ông biết quân Hitler sẽ giết những người bệnh tâm thần nên đã đưa ra các bản chuẩn đoán giả cho bệnh nhân của mình để cứu 1942, ông cùng cha mẹ, vợ và em trai bị bọn quốc xã bắt rồi đưa đến trại tập trung Auschwitz Ba Lan và sau đó là trại Dachau Đức. Chúng tịch thu quyển sách về lập trường của một bác sỹ trước những đau đớn của sự tồn tại mà ông bắt đầu viết từ trước khi bị bắt. Ý nghĩ rằng một ngày nào đó sẽ được đoàn tụ với gia đình và viết lại toàn bộ quyển sách đã giúp ông sống sót. Ông được người Mỹ giải phóng khỏi trại Dachau, trở về Vienna, được tin cha mẹ, em trai và người vợ đang mang thai đều đã chết trong các trại tập trung. Ông làm việc trong bệnh viện tâm thần, phục hồi lại cuốn sách đã bị tiêu hủy và viết cuốn tiếp theo „Nhà tâm lý học trong trại tập trung”, cuốn sách đã mang tên tuổi của ông đến với thế giới. Hai năm sau khi chiến tranh kết thúc, ông tái hôn. Viết lách, công việc và tình yêu – ông đã tìm thấy ý nghĩa cuộc đời ở đó sau những thảm kịch chiến Frankl mở ra môn phái thứ ba của ngành tâm lý trị liệu Vienna mà ông gọi là môn liệu pháp ý nghĩa logotherapy – bên cạnh môn phân tâm học của Freud và tâm lý học cá nhân của Adler. Logos có nghĩa là ngôn từ, đạo, ý nghĩa. Theo Freud, con người hướng tới lạc thú. Theo Adler – con người hướng tới sức mạnh, để cân bằng các mặc cảm thấp kém của mình con người tìm kiếm sức mạnh trong cuộc sống, để tự giải phóng khỏi cảm xúc lệ thuộc mà mình trải qua trong thời thơ ấu. Còn Frankl thì khẳng định con người tìm kiếm trước hết là ý nghĩa trong cuộc đời. Ông muốn giúp những người sống đau đớn, những người khổ sở vì cảm giác trống rỗng trong sự tồn tại. Ông muốn ngành tâm lý trị liệu mang một gương mặt nhân tư cách là một bác sỹ và triết gia, Frankl đấu tranh với cái ông gọi là chủ nghĩa hư vô nihilism. Ở đây, chủ nghĩa hư vô có nghĩa là sự hướng tới rút gọn hiện thực loài người về một hệ số nào đó – hệ số tâm lý, vật lý hay xã hội. Frankl cho rằng con người là một bản thể phong phú hơn, chúng ta không nên làm cho bản thể ấy nghèo nàn đi. Con người cũng là một bản thể tinh thần, chứ không phải chỉ là một sản phẩm và cơ cấu vật lý, tâm lý hay xã hội. Bởi vậy, con người không phải là con rối bị giật dây từ bên trong hay bên ngoài. Con người có khả năng làm được điều gì đó lớn hơn là chỉ đấu tranh sinh tồn. Con người tìm ra ý nghĩa trong đời và hướng tới các giá trị. Kinh nghiệm của Frankl và những người mà ông gặp trong những điều kiện khó khăn cùng cực đã cho phép ông có cái nhìn về con người khác Freud hay những trải nghiệm tinh thần ở trại tập trung được Frankl miêu tả, người ta tìm thấy cho mình bài học để vượt ra khỏi thế giới độc ác của cực quyền. Phải làm gì với cái lỗ đen của sự tồn tại? Điều gì là thực sự quan trọng trong cuộc sống? Điều gì giúp ta tìm thấy sức mạnh tinh thần và tâm lý cho mình và người khác? Sống thế nào và sống để làm gì?"Ta từ đâu tới? Ta là ai? Ta đi về đâu?" tranh sơn dầu của Gauguin, học của Frankl không phải là bài học dễ dàng trong nền văn hóa tiêu dùng hàng loạt và chớp nhoáng thời nay. Nhưng Frankl không muốn rao giảng đạo đức, ông chỉ muốn giúp những người qua đường đang bế tắc tinh thần. Ông cảnh báo hai thứ thái quá một là nhớ quá nhiều, nhớ hết tất cả những gì từng xảy ra với ta; hai là quá muốn rằng cuộc sống phải diễn ra thế này mà không thế khuyến khích một cuộc sống hướng tới các giá trị, hướng tới tương lai, bởi vì ông nhìn thấy trong trại tập trung những người có cơ hội sống sót nhiều hơn là những người tin vào một điều gì đó những người theo đạo, các nhà tư tưởng, các nhà hoạt động chính trị và xã hội, những người không chỉ nghĩ cho bản thân mình mà cố gắng giúp đỡ người khác, họ tin rằng họ có tương lai phía trước, họ sống vì ai đó hay vì cái gì đó, những người khi bị tước đoạt hết các điều kiện sống của một con người bình thường, vẫn luôn cố gắng hành xử một cách xứng đáng, không cho phép hủy hoại cảm giác tự do và phẩm giá của thể sản xuất, phát minh hay ban tặng ý nghĩa cuộc sống, chỉ có thể tìm thấy nó, bởi vì ý nghĩa cuộc sống tồn tại ngoài chúng ta, chúng tồn tại trong các giá trị nâng đỡ tinh thần con người, các giá trị mà những tù nhân của trại tập trung kia muốn phụng lý học và nền văn hóa hiện đại thường giảm thiểu tự do của con người, vén ra đủ mọi hình thức lệ thuộc của anh ta. Frankl đã lội ngược dòng ông chỉ ra rằng con người luôn có thể lựa chọn giữa các hành xử xứng đáng và không xứng đáng, và bằng cách đó thực thi tự do của mình. Mặc dù có các hạn chế, con người vẫn tự do và điều quan trọng là anh ta hưởng lợi từ sự tự do tình yêu, công việc và sự sáng tạo, Frankl xếp vào danh mục các giá trị cả sự đau khổ - khi nó không hủy hoại con người mà làm tinh thần họ lớn này xảy ra khi con người bắt đầu hiểu rằng mình không thể đạt được tất cả mọi thứ, và rằng việc bất toại ấy có thể phục vụ cho một điều gì đó tốt hóa hiện đại dạy ta điều ngược lại rằng chúng ta có quyền, thậm chí là nghĩa vụ, đặt ra các điều kiện và đòi hỏi trong cuộc sống. Nhưng nó không dạy ta phải làm sao nếu cuộc đời không cho ta đạt được những điều đó. Giá trị của sự đau khổ không có chỗ trong tủ thuốc cấp cứu của thời pop culture. Theo Frankl, ý nghĩa cuộc sống không phải là thứ hàng có thể mua, đặt, hoặc trực tiếp hướng tới. Ý nghĩa là kết quả của việc thực hiện các giá trị tồn tại ngoài con người, vượt quá các mục đích và nhu cầu đơn lẻ của anh ta. Những hành động mà anh ta thực hiện, những tác phẩm mà anh ta sáng tạo, tình yêu mà anh ta trải qua và sự đau khổ mà anh ta chịu đựng với lòng can đảm và phẩm giá – tất cả tạo thành giá trị của con người, vượt ra ngoài lợi ích và sự hữu hạn của loài các nhà tâm lý học thuộc trường phái Frankl, cảm giác mạnh mẽ về ý nghĩa cuộc sống là một trong các thành phần của tâm lý khỏe mạnh. Hạnh phúc chỉ là một hệ quả phụ của cảm giác rằng cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa. Bởi thế người không kiếm tìm hạnh phúc mà kiếm tìm và tạo ra các giá trị sẽ tìm thấy hạnh phúc nhanh hiệu của sự trống rỗng trong tồn tại là sự buồn chán, khi người ta không biết phải làm gì với thời giờ rảnh rỗi và họ giết thời gian như giết kẻ thù, lao vào bất cứ một hoạt động hay cuộc vui nào. Có vẻ như đơn giản, nhưng nhiều khi rất khó dứt khỏi thế giới của chủ nghĩa tuân thủ conformism ấy. Theo dr Opoczyńska của Đại học Jagielloński, Frankl là một trong những bậc thầy lớn nhất của thế kỷ XX về giới hạn và khoảng cách. Không phải mọi thứ đều có thể, không phải mọi thứ đều cần thiết, không phải mọi thứ đều được vì hỏi tại sao tôi bất hạnh – Frankl nói – hãy hỏi cuộc sống chờ đợi điều gì ở bạn và bắt tay vào việc đi.
CHUỖI BÀI VIẾT “CÙNG CON ĐI TÌM Ý NGHĨA CUỘC SỐNG” Trong cuộc sống, sẽ thật khó tránh khỏi những giây phút chúng ta tự hỏi bản thân về ý nghĩa của sự sống, hay cội nguồn của mọi thứ là như thế nào. Giàu có, thông minh, giỏi giang,… là những đặc điểm rất đáng khen ngợi, nhưng tất cả đều vô nghĩa nếu con chẳng thể xác định được ý nghĩa của cuộc đời này là gì. Có lẽ những bậc làm cha mẹ, hay những người lớn sẽ hiểu rất rõ cảm giác này. Khi tìm được lẽ sống cho mình, các con sẽ thấy trân trọng chính mình, có mục đích để hướng đến và có lý do đẹp đẽ để bắt đầu mỗi ngày của mình với nguồn năng lượng dồi dào nhất. Và khi đó, những vấn đề nổi cộm hiện nay như trầm cảm, tự tử ở lứa tuổi thanh thiếu niên sẽ có lời giải đáp. RMIT xin trân trọng giới thiệu tới cha mẹ chuỗi bài viết “Cùng con đi tìm ý nghĩa cuộc sống” với mong muốn cùng cha mẹ giúp đỡ con để tìm ra ý nghĩa cuộc sống cho chính mình. Kỳ 3 5 cách giúp con tìm ra ý nghĩa cuộc đời Tháp nhu cầu Maslow giúp cha mẹ hiểu con Tháp nhu cầu Maslow hình trên là một mô hình rất nổi tiếng trong tâm lý học nói về nhu cầu của con người theo từng cấp bậc. Ở thế hệ của phụ huynh, vì tình hình khó khăn của kinh tế, nhu cầu kiếm tiền đủ ăn, đủ mặc và tích trữ là nhu cầu quan trọng nhất. Ở thế hệ các bạn trẻ Gen Z sinh từ 1996 trở đi, khi nhu cầu cơ bản 2 tầng dưới cùng màu cam và đỏ đã được đáp ứng, các bạn mong mỏi đạt được những nhu cầu tầng trên. Đó là lý do hiện nay nhiều bạn trẻ băn khoăn với câu hỏi “ý nghĩa cuộc sống”. Hiểu được thuyết tâm lý trên, cha mẹ sẽ bớt nói con rằng “suy nghĩ không thực tế”, “phù phiếm” hay “mơ mộng”. Cha mẹ cần nhìn nhận rằng mỗi thế hệ có mỗi nhu cầu khác nhau, với nhu cầu đi tìm ý nghĩa cuộc đời của con mình, thay vì chê trách, cha mẹ có thể đồng hành cùng con làm các bước dưới đây để giúp con tìm ra câu trả lời. 👉 Đọc thêm Học thuyết Maslow và bài học cho hướng nghiệp Giúp con hiểu rõ bản thân Một bạn trẻ hiểu rõ bản thân thích gì, muốn gì, học gì, làm gì sẽ ít bị hoang mang, lo lắng về ý nghĩa của cuộc sống. Cũng giống như phụ huynh chúng ta, mỗi người có một lý do đi làm khác nhau, không ai giống ai. Có người đi làm vì yêu thích công việc, có người muốn đóng góp cho cộng đồng, có người muốn kiếm thật nhiều tiền chăm lo cho gia đình. Mỗi người có một giá trị hướng đến, không ai giống ai. Cha mẹ có thể giúp con hiểu rõ bản thân bằng các cách sau Làm trắc nghiệm Holland để biết sở thích và năng lực tự nhiên của con tại ĐÂY Cùng con chọn ra 5-10 giá trị công việc mà con thấy hứng thú và thích nhất trong các giá trị liệt kê dưới đây. Adventure – Phiêu lưuAutonomy – Sự tự chủAvoiding stress – Ít căng thẳngBuilding things – Xây dựng mọi thứCasual work environment – Môi trường làm việc thoải máiChallenge – Công việc nhiều thử tháchChanging the world – Góp phần thay đổi thế giớiCollaborating with others – Làm việc cùng người khácCompetition – Môi trường làm việc nhiều cuộc thiCreating new things – Tạo những thứ mớiCreativity – Sự sáng tạoDiversity – Sự đa dạngEmployee benefits – Phúc lợi nhân viênExposure to beauty – Tiếp xúc với cái đẹpFast pace – Nhịp độ nhanhFun – Vui vẻHelping others – Giúp đỡ người khácHigh income – Thu nhập caoHigh level of interaction with people – Tương tác nhiều với người khácIncome-based on productivity – Thu nhập dựa trên năng suấtInfluencing others – Gây ảnh hưởng đến người khácIntellectually demanding work – Công việc đòi hỏi trí tuệ caoJob security – Sự an toàn trong công việcLocation – Địa điểm làm việcMoral/spiritual fulfillment – Đạo đức, tử tếOpportunity for advancement – Cơ hội thăng tiếnOpportunity to lead – Cơ hội lãnh đạoOpportunity to learn new things – Cơ hội học hỏi những điều mớiOutlet for creativity – Cơ hội cho sự sáng tạoPhysical activity – Nhiều hoạt động thể chấtPleasant work environment – Môi trường làm việc dễ chịuPower – Có quyền lựcPrestige – Có uy tiếnRecognition – Sự công nhậnRisk-taking – Nhiều rủi roRoutine work – Công việc lặp lạiSeeing tangible results from work completed – Thấy được kết quả hữu hình khi hoàn thành công việcSharing ideas or information – Chia sẻ ý tưởng hoặc thông tinSolving problems – Giải quyết vấn đềStatus as an expert – Được làm chuyên giaStructure – Có cấu trúc tốtSupportive management – Ban lãnh đạo hỗ trợTeam membership – Các thành viên trong nhóm nhiệt tìnhTime freedom – Thời gian tự doTravel – Được di chuyển nhiềuVariety of tasks – Công việc đa dạngWork/life balance – Cân bằng cuộc sống và công việcWorking alone – Làm việc một mìnhWorking outside – Làm việc ngoài trời Giúp con đặt mục tiêu rõ ràng – phương pháp Khi con tàu đi trên biển và theo ánh đèn của ngọn hải đăng, tàu đi đúng hướng và không lo lắng về việc lạc đường. Mục tiêu trong học tập, công việc, cuộc sống của một người cũng giống như ngọn hải đăng trên biển của con tàu. Để giúp con bớt hoang mang trong việc tìm ý nghĩa cuộc sống, cha mẹ có thể hướng dẫn con đặt mục tiêu trong việc học hoặc cuộc sống cá nhân của con. Khi đặt mục tiêu, cha mẹ có thể hướng dẫn con viết ra mục tiêu theo phương pháp như ở hình bên cạnh. Để con có động lực đặt nhiều mục tiêu khác nhau và hoàn thành các mục tiêu đó, cha mẹ có thể treo thưởng cho con khi hoàn thành mục tiêu. Ví dụ, đầu tuần/tháng con cùng cha mẹ ngồi xuống thống nhất 3 mục tiêu SMART liên quan đến việc học hoặc phát triển bản thân. Sau một tuần/tháng nếu con hoàn thành được như đã hứa, cha mẹ có thể thưởng con một chuyến du lịch, một bữa ăn nhà hàng hoặc một món quà do con đề xuất khi đặt mục tiêu. Đọc các đầu sách truyền cảm hứng về hạnh phúc hoặc ý nghĩa cuộc sống Đọc sách từ các triết gia, các nhà tư tưởng lớn cũng là một cách để cha mẹ giúp con hiểu rõ hơn về vũ trụ sự sống bao la, tìm được lý do sống và điều gì đem lại hạnh phúc trong cuộc sống này của con. Một số sách chúng tôi gợi ý để cả cha mẹ và các con có thể đọc bao gồm Khi hơi thở hoá thinh không tự truyện rất hay và ý nghĩa về những ngày cuối đời của một bác sĩ phẫu thuật. Nhà giả kim một cuốn sách triết học viết dưới dạng câu chuyện được rất nhiều bạn trẻ ưu mến. Ba người thầy vĩ đại sách truyền động lực về 3 vai trò quan trọng trong cuộc sống là học hỏi, tình yêu và làm việc. Đi tìm lẽ sống một cuốn sách tâm lý học viết bởi một bác sĩ tâm lý đã sống sót sau nhiều năm ở trại tập trung của Đức. Bài giảng cuối cùng sách được viết bởi một giáo sư đại học, có 100 bài học khác nhau trong cuộc sống rất hay. 👉 Đọc thêm Làm sao để giúp con thích đọc? Hướng dẫn con sống chậm lại và nhìn vào bên trong Một trong những cách để tìm ra ý nghĩa sống của cuộc đời đó là sống chậm lại, tạm ngưng chạy theo những thông tin, lo lắng bên ngoài và quay về nhìn sâu vào bên trong. Cha mẹ cùng con có thể thực hành một số các bài tập liên quan đến hít thở, Yoga, thiền mỗi ngày 5-10 phút để cùng nhau có những giây phút lắng đọng. Tìm kiếm chuyên gia tâm lý, coaching Hiện nay có rất nhiều các chuyên gia tâm lý hoặc khai vấn được đào tạo để hỗ trợ người khác trong việc tìm ra sứ mệnh và ý nghĩa của cuộc sống. Cha mẹ có thể kết nối con cùng các chuyên gia để con trò chuyện, từ đó có các phương pháp và cách thức để tìm ra ý nghĩa cuộc đời. LỜI KẾT Ý nghĩa cuộc đời, lý do sống không phải dễ dàng tìm ra câu trả lời sau một buổi học, làm một bài trắc nghiệm hay đọc một cuốn sách. Những phương pháp kể trên chỉ là công cụ hỗ trợ, điều quan trọng nhất vẫn là các con có được sự ủng hộ và niềm tin, tình yêu thương từ cha mẹ, như vậy các con chắc chắn sẽ tự tin bước vào trường đời. 👇 Đọc thêm các bài viết liên quan ▪ Kỳ 1 Giúp con phát triển trí tuệ tinh thần như thế nào? ▪ Kỳ 2 Ikigai – Bí quyết giúp chúng ta tìm ra lẽ sống của cuộc đời ▪ Bánh xe hạnh phúc hay 5 cột trụ con bạn nhất thiết phải biết
Phiên tả pháp thoại của Sư Ông Làng Mai, ngày 18 tháng 5 năm 2003 tại chùa Từ Nghiêm, xóm MớiChắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng đi tìm cho mình một ý nghĩa của đời sống. Người chưa tìm ra được một ý nghĩa cho đời sống thì chưa có hạnh phúc, chưa có năng lượng. Nếu không khéo thì người đó có thể rơi vào tình trạng trống rỗng hiện sinh existential vacuum. Tình trạng trống rỗng đó buộc con người phải đi tìm một cái gì đó để khỏa lấp. Thường thì người ta đi tìm nơi đối tượng của dục. Có người tìm quên nơi rượu, có người sử dụng ma túy, có người tìm trong âm nhạc, trong những cuộc vui thâu đêm, cũng có người tìm nơi sắc dục để khỏa lấp sự trống rỗng trong khoảng năm 1965, trong một cuộc thăm dò người ta thấy rằng ở châu Âu số lượng sinh viên có được một chủ đích sống trong cuộc đời lên tới 60 – 65%, trong khi số lượng sinh viên ở Mỹ chỉ có hơn 20%. Sự kiện “trống rỗng hiện sinh” là một triệu chứng của thời đại. Đó không phải là triệu chứng bất an của một cá nhân mà là triệu chứng tập thể của một xã hội. Người ta có cảm giác trống rỗng, cảm thấy đời sống không có ý nghĩa và rồi phải tìm tới những phương tiện để khỏa lấp. Nhưng vì không được soi sáng nên họ đi về hướng sắc dục, ma túy và bạo vậy chúng ta phải làm thế nào để giúp cho người trẻ có được một ngọn lửa trong lòng, tìm ra được một ý nghĩa của cuộc sống, biết mình sống để làm gì, sống vì cái gì, sống vì người nào, sống vì một chính nghĩa nào. Chúng ta không thể đưa ra một ý nghĩa của đời sống nào đó và mời họ “Đây là một chính nghĩa, anh lấy đi để xài!”. Công việc mà chúng ta có thể làm là soi sáng cho người đó, giúp cho họ tìm ra được một ý nghĩa của cuộc đời. Tưới tẩm hạt giống tốtThỉnh thoảng có những người tới Làng Mai trong tình trạng như vậy. Họ nói “Tôi không cảm thấy đời sống của mình có một ý nghĩa gì cả! Tôi thấy chết hay sống cũng giống nhau thôi!”. Sự chán nản bao trùm lên những người đó. Khi đối diện với những người như vậy thì chúng ta phải làm gì để giúp họ? Chúng ta không thể nói một bài pháp thoại hay cho ý kiến để người đó chấp nhận. Chúng ta phải tìm cách nhìn sâu để có thể hiểu được, nhận diện được những hạt giống tốt của người đó, và chỉ cho họ phương pháp tưới tẩm những hạt giống tốt đó nơi họ. Đức Như Lai có dạy rằng người nào cũng có hạt giống tốt của tâm bồ đề. Khi được tưới tẩm thì hạt giống tâm bồ đề của ta biểu hiện ra cách này, và của người kia thì biểu hiện ra cách đề không phải là trao truyền những ý kiến mà là làm thế nào để giúp người kia tìm ra được lẽ sống của chính người đó. Ta sẽ không làm được chuyện đó nếu ta không biết gì về quá khứ cũng như hiểu được cách sống của người đó trong giây phút hiện tại. Những bài pháp thoại của chúng ta chỉ có tác dụng tưới tẩm, khơi lối cho người kia tìm ra được mục đích, ý nghĩa của đời họ. Ta cho pháp thoại không chỉ bằng lời nói mà còn có thể bằng cách sống của mình. Ta sống một cuộc sống có lý tưởng, có thương yêu, có mục đích. Ta hành xử và tỏa chiếu niềm vui, năng lượng. Rồi khi tiếp xúc được với con người và với cách sống của ta thì người đó có cơ hội nhìn trở lại để khám phá ra trong bản thân họ có một cái gì tương tợ mà lâu nay đã bị bít lấp và đè khi người kia bị kẹt, bị những trở lực, và có những bức màn ngăn che không cho người đó thấy được khía cạnh tốt đẹp của chính mình. Ta có thể giúp người đó lột bớt bức màn ngăn che, tháo gỡ những chỗ kẹt để cuối cùng người đó có thể tiếp xúc với những cái đẹp, cái lành, cái thật nơi họ. Họ tìm ra được hướng đi của đời mình. Ý tư liệu pháp LogothérapieNhà phân tâm học Viktor Frankl là cha đẻ của phương pháp trị liệu “Logothérapie”. Nếu dùng danh từ Phật giáo chúng ta có thể dịch “Logothérapie” là ý tư liệu pháp. Ý tư mượn từ chữ ý tư thực có khi còn gọi là tư niệm thực, tức là ước muốn volition, deep desire. Nếu có ước muốn là ta có năng lượng và ta có thể đi tới. Những người chán chường, không muốn sống là những người không tìm ra được ý nghĩa của đời đã từng sống rất lâu trong trại tập trung của Đức Quốc Xã Nazi và đã trải qua những khổ đau, tuyệt vọng cho đến nỗi ông đã từng nghĩ rằng mình không có khả năng sống sót trở về. Ông là một nhà tâm lý trị liệu có tài. Ông đã sáng tác một tác phẩm nói về phương pháp trị liệu gọi là “ý tư liệu pháp”. Trong đó, ông muốn trao truyền những kinh nghiệm và tuệ giác của mình lại cho đời. Nhưng khi ông bị chuyển tới trại tập trung Auschwitz thì người ta khám phá ra bản thảo và đã tịch thu tác phẩm của ông. Đó là đứa con tinh thần, là lẽ sống của ông. Bây giờ đứa con tinh thần bị tiêu hủy thì cuộc sống của ông còn có ý nghĩa gì nữa?Trong điều kiện sống tồi tệ ở trại tập trung, người ta rất dễ dàng trở thành nạn nhân của sự tuyệt vọng. Nhưng ông đã tìm cách để sống sót. Sau khi lột áo ông để lấy bản thảo, người ta đưa cho ông cái áo rách tả tơi của một tù nhân vừa bị cho vào lò hơi độc. Trong cái áo tả tơi đó, ông tìm thấy một tờ giấy xé ra từ một cuốn kinh Do Thái. Trong tờ giấy có bài kinh Kadish, tức bài kinh được đọc lên trước khi chết để chứng tỏ mình có niềm tin rất vững ở Thượng Đế và mình coi thường cái chết, cái chết không đụng chạm gì được tới mình. Khi tìm thấy mảnh giấy trong áo người tử tù đã chết trong phòng hơi độc thì ông bừng tỉnh. Ông thấy rằng cái chết và những khổ nhục lớn lao nhất của cuộc đời không làm cho người tử tù mất đi đức tin. Người này đã sống những giờ phút cuối cùng với đức tin đó. Vì vậy ông quyết tâm tìm mọi cách để sinh ra đứa con tinh thần của mình lần thứ lượm những miếng giấy vụn, ghi lại những ý chính mình đã viết trong bản thảo, hy vọng được sống sót để một ngày nào đó có thể viết lại bản thảo. Chính nhờ bám vào ý tư, vào ước muốn đó mà ông chống cự được với những khổ nhục, nhất là với bệnh sốt thương hàn đang hoành hành trong trại tập trung. Theo Frankl, mình chỉ có thể tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống khi có ba yếu tốYếu tố thứ nhất mình muốn thực hiện một cái gì đó trong cuộc đờiChẳng hạn như ý muốn trao lại cho đời một đứa con tinh thần kết tinh từ những kinh nghiệm của mình, hoặc theo đuổi một chương trình, một sự nghiệp. Ví dụ mình tìm ra là mình có tài năng của một họa sĩ; những bức tranh của mình có thể đem lại niềm vui cho nhiều người, giúp họ quên bớt những khổ đau dằn vặt. Mình thấy những sáng tác của mình có thể tô điểm, làm đẹp cho cuộc đời. Vì vậy mình muốn theo đuổi sự nghiệp của một họa sĩ, không hẳn vì tiền bán tranh hay vì danh tiếng mà chỉ vì ý nguyện muốn làm đẹp cho cuộc đời. Nếu là người có khiếu âm nhạc, mình sáng tác không hẳn là vì quyền bính, vì danh vọng, vì lợi dưỡng hay sắc dục mà vì mình có ý nguyện. Sự nghiệp của mình là sống và thể hiện được cái mình cho là đẹp, là quí, là cần thiết cho cuộc trường hợp của Siddharta, Siddharta muốn tu tập để chuyển hóa những khổ đau và giúp những người đương thời chuyển hóa khổ đau. Đó là một tư niệm và tư niệm đó giúp Siddharta đi qua được những thời gian khổ hạnh cực kỳ. Khi chưa tìm ra được con đường, Siddharta đã thử nhiều cách thực tập, trong đó có sự thực tập khổ hạnh, và làm cho thân thể héo mòn, tiều tụy đến nỗi suýt chết. Nhưng Siddharta đi qua được tất cả những khổ hạnh đó và sống sót được vì có một ý tư rất mạnh. Ý tư đó là chuyển hóa phiền não và cứu độ con người. Sau khi thành đạo, ý tư đó vẫn còn hùng mạnh nên Siddharta đã để ra 45 năm để đào tạo, giảng dạy và thực tập. Siddharta không muốn nổi tiếng. Siddharta không muốn trở thành đối tượng của sự kính ngưỡng. Siddharta chỉ muốn chuyển hóa khổ đau và giúp người chuyển hóa khổ đau. Vì vậy ý nghĩa của cuộc sống có được là nhờ sự nghiệp, mà sự nghiệp đó không phải là sự thỏa mãn những tư dục cá nhân. Chúng ta phải phân biệt rõ ràng điều những người đang chạy theo năm dục tài tiền bạc, sắc sắc dục, danh danh vọng, thực ăn và thụy ngủ. Trong họ cũng có một động lực, họ biết họ muốn gì và chạy theo cái gì. Có nhiều người đi tìm những đối tượng của dục chẳng qua chỉ để khỏa lấp cái trống vắng trong lòng. Có người đi tìm hạnh phúc nơi quyền lực. Họ nghĩ rằng khi có quyền lực thì có thể thỏa mãn được những dục khác. Có người thấy rằng có nhiều tiền thì sẽ có nhiều quyền lực. Mặc dù mình không phải là ông bộ trưởng, ông thủ tướng hay ông tổng thống, nhưng một khi mình có nhiều tiền thì ông bộ trưởng, ông thủ thướng hay ông tổng thống cũng phải đi theo mình. Vì vậy trong thế giới của chúng ta, những nhà lãnh đạo công nghiệp rất quan trọng, nhiều khi họ còn có nhiều quyền lực hơn những nhà lãnh đạo chính trị. Có tiền là có quyền ra có những đối tượng khác như thức ăn ngon. Thức ăn ngon ở đây là những thứ làm thỏa mãn khẩu vị nhưng có ảnh hưởng tàn hại thân và tâm. Chúng ta không có khả năng chống cự lại những thức ăn hấp dẫn. Chúng ta biết ăn thứ đó vô thì sẽ khổ đau, sẽ dẫn đến tình trạng rã rời của thân và tâm nhưng không ăn không theo đối tượng của năm dục chưa hẳn là đã tìm ra được ý nghĩa của sự sống. Có những người có quá nhiều quyền hành, quá nhiều tiền bạc nhưng họ đau khổ cực kỳ vì họ thấy trống rỗng. Những nhà lãnh đạo doanh thương lớn như ông Bill Ford đã tới tu viện Thanh Sơn ngồi thiền với Thầy. Ông thấy cuộc sống của một người giàu có và quyền lực không đem tới hạnh phúc. Ông cho biết trong giới giàu có và quyền lực, có người đau khổ rất nhiều. Họ rất cô đơn, sống cô đơn mà chết cũng cô đơn. Vì vậy dù đi tìm quyền bính, đi tìm danh vọng người ta vẫn đau khổ như thường. Và rốt cuộc có người đã phải tự tử. Bill Ford đang đi tìm một ý nghĩa của đời sống. Ông muốn chế tạo ra xe hơi không gây ô nhiễm môi trường. Ông nuôi chí nguyện làm sao để xe hơi sau này có thể chạy bằng nhiên liệu khí hydro. Đó là ý tư mà ông đeo đuổi. Nhưng liệu ông có nuôi được ý tư đó lâu dài hay không?Có thể nói cuộc đời của tướng De Gaulle rất thành công. Ông đã giải phóng được nước Pháp, đem lại độc lập và tự do cho nhân dân Pháp. Ông nổi danh như cồn và có thời dân Pháp coi ông như quốc phụ tức người cha của tổ quốc. Nhưng những ngày tháng cuối của tướng De Gaulle rất buồn thảm. Sau một cuộc biểu tình chống đối của người trẻ, ông tổ chức buổi trưng cầu dân ý referendum để hỏi người dân có còn muốn ông đứng ở địa vị tổng thống nữa không? Ông tin chắc rằng người dân sẽ trả lời “muốn” tại vì ông là quốc phụ, là người đã có công giải phóng nước Pháp. Nhưng kết quả của cuộc trưng cầu dân ý thì trái lại, người dân không muốn. Ông bỏ chức vụ tổng thống, ngay lập tức trở về làng quê của ông trong vòng 24 giờ đồng hồ. Trong lòng ông có một nỗi thất vọng lớn. Ông nghĩ người dân Pháp vô ơn bạc nghĩa; mình là người anh hùng đã cứu nước Pháp mà bây giờ dân lại nói không thích mình. Những ngày tháng cuối cùng của tướng De Gaulle rất cô đơn. Ông chưa thoát khỏi ý niệm về ngã và chưa chuyển hóa được lòng tự hào của vậy, danh vọng, dù lên tới mức cùng cực, cũng chưa có thể làm cho con người có hạnh phúc chân thật, huống hồ là lợi lộc, quyền bính và sắc dục. Chúng ta thấy rõ ràng khi chưa tìm được ý nghĩa của đời sống thì ta dễ bị xao động bởi sự đi tìm đối tượng của dục. Ta nghĩ đi tìm đối tượng của dục có thể khỏa lấp được cái trống rỗng trong lòng. Chứng bệnh tập thể của thời đại chúng ta là chứng bệnh trống rỗng hiện sinh existential vacuum. Ta phải tu học như thế nào để vượt thoát triệu chứng đó và giúp cho đời bằng muôn ngàn phương tiện để mỗi người trong xã hội tìm ra được ý nghĩa của đời sống. Nếu là người xuất gia mà ta lâm vào tình trạng đó tức là Bồ đề tâm của ta bị soi mòn. Không có ý tư thực thì ta không giúp được cho chính mình, không giúp được cho tăng đoàn của mình chứ đừng nói là giúp được cho xã Bồ đề tâm không vững, chí nguyện tu học không bền thì tự nhiên mình đi tìm những chuyện tầm thường trong phạm vi năm dục để khỏa lấp sự trống rỗng. Nhưng nếu mình có khối lửa trong tâm thì sự lôi kéo của năm dục không đủ sức để làm xao động lòng tố thứ hai Tình yêu, kinh nghiệm của trái timTình yêu đó có thể là tình yêu Thượng đế hay tình yêu nam nữ. Khi có tình yêu thì mình bắt đầu đi trên con đường khám phá, khám phá bản chất của người mình yêu và bản chất của chính mình. Theo Frankl, tình yêu là cách duy nhất để nắm được một cách sâu sắc bản chất của một người. Không có tình yêu thì không thể hiểu được người đó. Nhưng theo thầy thì làm sao mình nắm được bản chất của một người khác khi mình không biết được mình là ai? Mình chưa biết mình là ai thì làm sao mình biết được người khác là ai? Tình yêu chân thật là một con đường khám phá, khám phá được bản thân tới chừng nào thì mình khám phá được đối tượng thương yêu tới chừng đó. Nếu không có sự khám phá bản thân thì không thể nào khám phá được người khác. Đức Thế Tôn có mười danh hiệu, trong đó có danh hiệu Thế Gian Giải, tức là bậc hiểu thấu thế gian. Có hiểu mới có thương. Tại sao đức Thế Tôn hiểu thấu được thế gian? Tại vì Ngài hiểu được chính mình. Hiểu được thì mới thương được người và giúp người thoát khỏi vòng khổ nói một câu giống như giới thứ ba của Năm giới Sự gần gũi nam nữ chỉ có thể được chấp nhận khi có tình yêu chân thật, nếu không thì đó là hành động có tính cách tàn hại. Trong giới thứ ba, chúng ta nói “Con nguyện không ăn nằm với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức lâu dài.” Theo Frankl, sự gần gũi nam nữ trong trường hợp có tình thương đích thực có thể là một cái gì thánh thiện. Mình có thể chấp nhận câu nói của Frankl. Vì vậy trong Năm giới dành cho người tại gia chúng ta cũng có một câu tương với người xuất gia thì khác. Tại sao một sự thật áp dụng được cho người này lại không áp dụng được cho người khác? Người xuất gia cũng biết rằng hành động giao hợp nam nữ nếu được xảy ra trong sự cung kính, trong tinh thần trách nhiệm, trong tình yêu chân thật và sự cam kết lâu dài thì không phải là chuyện xấu. Nhưng tại sao người xuất gia không làm chuyện đó? Câu trả lời là tại vì người xuất gia có một tư niệm rất đặc biệt, muốn dồn hết năng lượng của mình về một hướng, sử dụng tất cả năng lượng để thực hiện chí nguyện của mình. Đời sống độc thân là một trong những nền tảng rất quan trọng cho chí nguyện đó. Những nhà cách mạng bôn ba nơi hải ngoại để tìm con đường sống cho quê hương cũng sống giống như người xuất gia. Họ không vướng bận thê nhi. Người xuất gia không cho đó là chuyện xấu ác, nhưng không làm vì mình đang theo đuổi một chí nguyện lớn. Vướng vào ái dục cũng là một trở lực không cho phép mình đi tới trường hợp thứ hai tình yêu, hình như trong thâm tâm của tác giả có nói tới một kinh nghiệm tâm linh religious experience, có thể nói là tình yêu Thượng đế. Tình yêu đó có thể cho mình nhiều năng lượng để đi tới và làm được chuyện này chuyện kia. Khi yêu một người thì mình có thể hy sinh thân mạng để người đó được hạnh trong ánh sáng của sự thực tập, chúng ta thấy rất rõ là khi thương một người và muốn làm cho người đó hạnh phúc thì mình phải hiểu người đó. Khả năng hiểu tùy thuộc nơi sự thực tập của mình, vì nếu không hiểu được mình là ai thì mình chưa thể hiểu được người kia là ai. Cũng như thương, nếu không thương được mình thì làm sao mình có thể thương được người khác. Thương như vậy chẳng qua là một sự đam mê. Mình phải phân biệt giữa đam mê và tình thương. Đam mê thì đưa đến sự vướng mắc, rồi dìu nhau vào chỗ khổ đau. Còn tình thương thì đưa tới hạnh phúc và tự do cho cả hai ta phải phân biệt, phải nhìn cho rõ sự nghiệp này có thể chỉ là sự chạy theo đối tượng của năm dục và tình yêu này có thể chỉ là sự chạy theo đam mê. Khi đọc Frankl với con mắt của Bụt thì mình thấy như vậy. Tình yêu, theo đạo Bụt, là một sự khám phá, không phải chỉ là sự khám phá người kia mà thôi. Làm sao mình khám phá được bản chất của người kia khi mình không biết mình là ai? Mình không yêu được mình thì làm sao mình yêu được người kia? Mình không giải phóng được mình thì làm sao mình giải phóng được người khác? Khi mình chưa tìm ra được ý nghĩa của đời mình thì làm sao mình giúp được người kia tìm được ý nghĩa đời sống của người kia?Khi thương thì mình có khả năng giúp được người kia phát triển tiềm năng trong họ. Người đó ban đầu thấy rã rời, không có năng lượng. Nhưng nhờ tình thương, mình có thể soi đường chỉ lối, gỡ ra những bế tắc của người đó và làm cho họ phát hiện ra được những tiềm lực lớn lao trong người họ. Và người đó trở thành một bậc anh hùng, một chàng hiệp sĩ, một người có khả năng làm đẹp cho cuộc đời. Đức Thế Tôn đã từng thương như vậy. Ngài đã khám phá ra những tài ba tiếp nối được Ngài như thầy Xá Lợi Phất, thầy Mục Kiền Liên, thầy A Nan, Sở dĩ Đức Thế Tôn làm được vì Ngài đã khám phá được chính Ngài. Ngài đã khám phá ra ý tư của Ngài, lẽ sống của đời Ngài. Ngài đã hiểu được Ngài. Ngài đã tự giác nên mới giác tha. Ngài đã tự độ nên mới độ tha. Ngài đã tự ái nên mới ái tha. Điểm thứ hai là có tình yêu thì tự nhiên có một lẽ sống. Lẽ sống không thể có bằng sự đam mê mà phải bằng tình yêu chân tố thứ ba là khổ đauKhổ đau đã có nhiều, ta không cần phải đi tìm thêm khổ đau. Nhưng nếu biết quán sát, nhìn sâu vào lòng của khổ đau thì ta tìm ra được ý nghĩa của đời sống. Điều này rất rõ trong giáo lý “Tứ diệu đế”. Bụt nói sự thật hiển nhiên là có khổ đau ill-being và nếu quán chiếu sâu sắc khổ đau thì mình tìm ra được ý nghĩa của đời sống, tức sự thật thứ tư – Đạo đế. Khổ đau phải có giá trị mở mắt cho mình, giúp mình tìm ra được lẽ sống của đời mình. Nếu không thì khổ đau sẽ tràn ngập, và làm cho mình chết đuối trong biển cả mênh mông của cả mọi người trong trại tập trung gần như tuyệt vọng, không thấy một chút hy vọng sống sót nào. Và Frankl cũng không chắc có thể viết lại được, sinh ra đứa con tinh thần lần thứ hai để hiến tặng cho đời. Tất cả mọi người chung quanh đều nghĩ nếu không có được ngày mai thì tất cả các khổ nhục mà mình đang chịu đựng sẽ không có ý nghĩa gì nữa. Nhưng Frankl không để mình bị cuốn chìm trong tư tưởng đó. Và nhờ tờ giấy có bài kinh Kadish vò nhàu trong túi áo mà Frankl thấy rõ ràng người Do Thái kia đi vào phòng hơi độc với những bước chân rất vững, ngẩng đầu lên và đọc bài kinh, không khiếp sợ, không co rúm, không than khóc. Frankl chợt tỉnh những tuệ giác mà mình muốn trao cho người, mình có thể sống những tuệ giác đó trong giây phút hiện tại. Có thể ngày mai hay ngày mốt mình sẽ chết, nhưng nếu mình còn một hay hai ngày để sống thì mình phải sống với cái tuệ giác mà mình muốn trao truyền đó. Mình trao truyền bằng sự sống của chính mình. Frankl nghĩ nếu ta chết trong phòng hơi độc với những tuệ giác ta muốn trao truyền thì ta đã thành công rồi. Vì vậy khổ đau tuyệt vọng cũng là một điều kiện để ta tìm ra được nghĩa sống. Frankl nói một câu rất hào hùng nếu mình không thể chuyển đổi được tình trạng thì mình phải chuyển đổi tự thân mình! Mình đừng nói rằng hoàn cảnh này không thể chuyển đổi được nên tôi chịu thua, tôi bỏ kể, một hôm một ông bác sĩ tới gặp Frankl, than khóc buồn khổ vì vợ ông mới qua đời, một người vợ mà ông thương yêu hết mực. Ông coi bà như lẽ sống của đời mình. Người đó chết nên ông không tìm được niềm vui sống nữa. Đau khổ, tuyệt vọng của ông lớn quá, ông chịu không nổi. Ông có ý muốn tự tử đi cho khỏe. Trong ông có sự trống rỗng hiện sinh. Frankl đã nói với ông như thế này– Này ông, bây giờ ông thử trả lời tôi. Nếu ông chết và bà sống thì ông có nghĩ là bà sẽ khổ đau sau khi ông chết không?Ông nói– Như vậy sẽ nguy hiểm lắm, tại vì bà ấy sẽ khổ đau vô nói– Đó, ông thấy không? Ông biết bà chết thì không phải gánh nỗi khổ đau tuyệt vọng mà ông đang gánh. Có phải như vậy là đỡ cho bà lắm không? Vì vậy ông phải thực tập gánh khổ đau này cho bà. Đó là tình thương, đó là tình yêu.“Phổ tế nhất thiết, nguyện đại chúng sanh, thọ vô lượng khổ” có nghĩa là thay thế cho chúng sanh mà chịu đựng khổ đau vô lượng. Đó là câu trong kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân Kinh Bát đại nhân giác. Bây giờ ông đang chịu gánh nặng đau thương để bà khỏi đau thương, như vậy thì điều này có ý nghĩa không? Ông bác sĩ tìm thấy ý nghĩa và ông hết đau khổ giống như một phép lạ vậy. Mình không thể làm phép lạ cho bà sống dậy, nhưng mình có thể làm cho ông hết khổ hay là bớt không thay đổi được hay chưa thay đổi được tình trạng thì ta phải thay đổi bản thân mình. Thay đổi bản thân thì ta bớt đau khổ liền mà không cần phải đòi hỏi người này phải như thế này, người kia phải như thế kia. Thay đổi tâm mình thì tự nhiên hoàn cảnh trở nên trong sáng và ta chấp nhận được tất cả những cái mà ta chưa chấp nhận được trong quá khứ. Frankl cũng giỏi, ông nói được ngôn ngữ của những người trong một ông Rabi – tức giáo sĩ Do Thái giáo – đến gặp Frankl. Vợ và bốn đứa con của ông chết trong trại tập trung. Ông không còn đứa con nào để tiếp nối, để đọc kinh Kadish khi ông chết. Vậy nên ông tục huyền, cưới một bà vợ khác. Nhưng bà này lại không có khả năng sinh con nên ông tuyệt vọng vô cùng. Ông nói– Bốn đứa con trai của tôi đã bị bức tử. Tâm hồn chúng trong trắng, bây giờ chúng đang ở trên cõi trời với Thượng đế. Còn tôi là một người trần tục. Tôi có nhiều tội lỗi, nhiều yếu nói– Nhưng mà ông cũng còn hy vọng là sau khi chết, ông sẽ trở về đoàn tụ với con ông trên Rabi nói– Chắc không? Con tôi rất trong trắng. Khi chúng chết thì Thượng Đế đưa chúng trực tiếp lên trên đó. Còn tôi, tôi không còn trong trắng nữa, tôi có những phàm tục. Chắc chắn là trong khi tôi chết không có đứa con nào đọc kinh Kadish và tôi cũng không được đưa lên để gặp các không có niềm tin như ông đó, nhưng Frankl học nói ngôn ngữ đức tin của ông ta– Nhưng nếu giáo sĩ chấp nhận những khổ đau này để thanh lọc hóa thì khổ đau trở nên có ích lợi. Nhờ những đau khổ này mà ông có thể thanh lọc tự tâm. Và chính nhờ sự thanh lọc mà sau này Thượng Đế sẽ cho ông lên đoàn tụ với các con của giúp cho ông Rabi thấy trong quá trình đi ngang qua khổ đau, mình có thể biến khổ đau trở thành hữu ích và tìm ra được nghĩa sống của đời mình. Đạo Bụt nói rất rõ khổ đau là chất liệu làm ra tuệ giác, an lạc; cũng như bùn là chất liệu làm thành hoa sen. Không có khổ đau thì không có hạnh phúc, hiểu biết và thương yêu. Nhưng ta không cần và không nên tạo thêm khổ đau. Đã có quá đủ khổ đau cho ta sử dụng rồi. Sứ mạng thương yêuNhìn và quan sát cây cỏ, ta thấy lá chuối chị nuôi lá chuối em và nuôi thân chuối. Ta học được rất nhiều trong sự quan sát đó. Lá chuối chị được sinh ra trước, tiếp thu ánh sáng mặt trời, những chất hơi như carbonic dioxide CO2 và chuyển hóa thành những chất nuôi dưỡng thân chuối và những lá chuối con đang từ từ phát hiện. Lá chuối chị có một sứ mạng, có thể gọi đó là sứ mạng thương yêu. Ngay trong giới cây cỏ cũng có, đó là điều rất tự nhiên nuôi dưỡng và bảo hộ cho thế hệ tương lai. Đó là một cái gì được ghi khắc vào trong sự sống. Nhưng có một điều trong lá chuối chị có một cái mà mình có thể tạm gọi là ý nghĩa sống, mục đích sống của lá chuối chị là nuôi cây chuối và những thế hệ lá chuối tương một bà mẹ thương yêu và nuôi dưỡng đứa con, mình thấy rất rõ trong bà mẹ có tình thương, có một ý nghĩa của đời sống. Mục đích của bà là nuôi con lớn lên. Bà mẹ có sứ mạng giống như lá chuối chị. Nhưng trong khi lá chuối đang làm việc nuôi nấng cây chuối và những lá chuối khác thì nó cũng có thể có hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Nó xòe ra tiếp nhận ánh sáng ban mai, trình bày tất cả những tươi mát, đẹp đẽ của mình và sống an lạc trong từng giây từng phút. Hai công việc đó không chống đối nhau. Năng lượng của Bồ đề tâm và khả năng lạc trú trong giây phút hiện tại không chống đối nhau. Con sư tử mẹ hay con mèo mẹ cũng chăm sóc, bảo hộ những những đứa con nó sinh ra. Nhiều khi nó nhịn để cho con ăn. Nó có tình yêu, nó có một ý nghĩa của đời một người cha hay một người mẹ, ta phải thấy đời sống của mình có một ý nghĩa nào đó. Ta đã tiếp nhận như thế nào và sẽ hiến tặng như thế nào? Nếu không thấy được mình đã tiếp nhận cái gì thì làm sao thấy được mình sẽ hiến tặng cái gì? Là một người xuất gia, ta đã tiếp nhận được giới pháp, ta đã tiếp nhận được Tam bảo, đã có hạnh phúc. Ta đã trở thành một sư anh, một sư chị. Ta có bổn phận nhìn các sư em bằng con mắt đó. Ta phải sống và hành xử như thế nào để mỗi giây phút của đời sống hàng ngày có tác dụng nuôi nấng các sư em. Ít nhất ta phải làm được như một tàu lá chuối. Vì vậy mỗi bước chân của ta phải đi trong chánh niệm. Nếu bước chân không chánh niệm thì bước chân đó không có tính cách nuôi dưỡng và không thể hiện được tình thương của mình. Là một sư chị mà ta không biết thở và ôm ấp khi có sự bực tức biểu hiện thì ta không thương các sư em. Mình nói mình thương sư em, thương thầy nhưng nếu mình không làm được việc đó thì lời tuyên bố kia trở thành trống rỗng. Thương là một cái gì có thật. Thương bằng mỗi bước chân, bằng mỗi hơi thở, bằng cách hành xử, bằng từng lời nói của mình. Mình có tình thương hay không, điều này có thể thấy được rất rõ ràng, không thể che giấu được.
TMĐP- Bạn cũng như tôi, tưởng khó có thể tìm cho đời mình một ý nghĩa, trong khi ý nghĩa do mình định đoạt. Giá trị cũng như ý nghĩa cuộc đời hoàn toàn do ta, ở ta. “Buồn đời” nhiều khi không do “đời buồn”, mà do không cho đời một ý nghĩa, bằng chứng là nhiều người dù có tất cả những thứ làm đời vui, như gia đình, khả năng tinh thần, của cải vật chất, danh phận xã hội, nhưng đời vẫn buồn và vì buồn đời, những người này đã kết liễu cuộc đời bằng cái chết cũng buồn như cuộc đời buồn của họ. Nhưng tại sao có tất cả mà đời vẫn không vui? Thưa vì đời chỉ vui khi đời có ý nghĩa, nên có tất cả mà không có ý nghĩa, thì đời vẫn mãi không vui, bởi cái làm cho đời vui không phải là cái có, kể cả có nhiều, có hết, có tất cả, nhưng là cái có ý nghĩa, và ý nghĩa phải có để đời không buồn, để đời hết buồn là ý nghĩa của giá trị. Đặc điểm ở người buồn đời là không thấy giá trị ở cuộc sống, mà cuộc sống được làm nên bởi rất nhiều điều, nhiều sự, nhiều người, nhưng trước bất cứ sự gì, và với người nào, người buồn đời ấy đều không tìm thấy một giá trị. Họ buồn vì trong tương quan không thấy ai là người có giá trị; buồn vì không việc gì, sự gì được coi là có giá trị, và vì không người nào, không sự gì, việc gì có giá trị nên tất cả cuộc sống trở thành vô nghĩa, dẫn đến tình cảm chán đời, buồn đời, thù đời, hận đời và thái độ khinh đời, ngạo đời, xa lánh đời. Một khi đã ý thức ý nghĩa phát sinh từ giá trị, ý nghĩa cuộc đời bắt nguồn từ giá trị cuộc đời, người ta hăm hở lên đường đi tìm giá trị. Trên hành trình đi tìm giá trị để đời không là đời buồn, người ta khám phá ra điều thú vị này, đó là giá trị càng cao, ý nghĩa càng lớn; ý nghĩa càng lớn, niềm vui càng bao la, chan chứa. Nói cách khác, niềm vui cuộc đời, ý nghĩa cuộc đời, và giá trị cuộc đời tỷ lệ thuận với nhau, và khao khát sánh vai đồng hành. Nhưng giá trị cuộc đời là giá trị nào? Vì cuộc đời con người là tiếng gọi lên đường về Chân Thiện Mỹ, tiếng gọi ấy ở ngay trong tâm hồn mỗi người, và ngày đêm nhắn gửi, mời mọc, thúc đẩy, động viên. Tiếng gọi của sự thật, của thiện, mỹ là tiếng gọi không ai có thể giập tắt, bởi đây là tiếng gọi bất tử, tiếng gọi làm người, tiếng gọi chỉ con người mới có, tiếng gọi tách biệt con người khỏi con vật và nâng con người lên cao đến vô cùng, vô tận, nên giá trị cuộc đời ở trong tiếng gọi này, và giá trị cuộc đời chính là giá trị của con người đáp trả tiếng gọi ấy. Như thế, khi ước muốn và thực hiện những gì là thật, là tốt, là đẹp cho mình và cho người khác là lúc ta tìm được giá trị cuộc đời và cho đời ta một ý nghĩa. Ngược lại, đời ta chẳng có ý nghĩa gì, khi tư tưởng lời nói, việc làm của ta không có giá trị vì vắng bóng sự thật, và thiện mỹ. Bạn cũng như tôi, nhiều lúc tưởng khó có thể tìm cho đời mình một ý nghĩa, trong khi ý nghĩa do mình định đoạt. Sai lầm ấy cần phải chỉnh sửa, bằng xây dựng đời mình thành một đời có giá trị nhân văn là giá trị sự thật khi tôn trọng sự thật, làm chứng sự thật, bảo vệ sự thật; là giá trị của thiện hảo, khi suy tưởng điều tốt, nói lời tốt, làm việc tốt; là giá trị của hoàn mỹ, khi biết trân qúy nét đẹp ở con người, đăc biệt nét đẹp của tâm hồn, nét đẹp của thiên nhiên, nét đẹp trong tương quan giữa người với người. Và ta sẽ chẳng phải đi đâu xa cho đời mỏi mệt, vì giá trị cũng như ý nghĩa cuộc đời hoàn toàn do ta, ở ta. Jorathe Nắng Tím
đi tìm ý nghĩa cuộc đời